Mạng xã hội

Xứ Phật Tình Quê - Thích Hạnh Nguyện; Thích Hạnh Tuấn

Mục lục View more
Mục lục

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

 
Từ muôn trùng xa xôi diệu viễn, chúng tôi đã đến Ấn Độ bằng những tâm trạng vô cùng phức tạp. Những bước chân đàu dọ dẫm trên miền đất mới. Những ấn tượng sâu đậm chập chùng đã sống dậy trong tâm hồn chúng tôi. Là những đứa con của Phật, là những người đã chọn cho mình lối sống truyền thống của người thoát lydĩ nhiên chúng tôi luôn ao ước được đặt chân đến nơi đã từng là trụ xứ của người cha tinh thần của chúng tôi, của người cha hiền mà chúng tôi quen gọi là từ phụ.
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen

 

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

 

Lời Nói Đầu

Từ muôn trùng xa xôi diệu viễn, chúng tôi đã đến Ấn Độ bằng những tâm trạng vô cùng phức tạp. Những bước chân đàu dọ dẫm trên miền đất mới. Những ấn tượng sâu đậm chập chùng đã sống dậy trong tâm hồn chúng tôi. Là những đứa con của Phật, là những người đã chọn cho mình lối sống truyền thống của người thoát lydĩ nhiên chúng tôi luôn ao ước được đặt chân đến nơi đã từng là trụ xứ của người cha tinh thần của chúng tôi, của người cha hiền mà chúng tôi quen gọi là từ phụ.

Trong truyền thống Việt Nam, do ảnh hưởng nặng nề nền tư tưởng Khổng giáo của Trung Hoa, người cha luôn đóng vai trò của một ‘nghiêm thân’, luôn là một tàng cây vững chải cho cả gia đình nương tựa, chứa trong thân những thớ gỗ ngọt ngào đầy nhựa sống nhưng lại được bao bọc bên ngoài bằng lớp vỏ sần sùi khô cứng. Hình ảnh người cha là bóng dáng của một con người nghiêm nghị như thế đó, trong khi người mẹ là ‘từ mẫu’ luôn dịu dàng săn sóc đàn con, tâng tiu con khi bị ngã, an ủi con lúc buồn đau. Người mẹ như những chiếc cành non với những chiếc lá xanh tươi nõn nà luôn cho con những bóng mát của tình thương. Hai đấng ‘từ nghiêm’ là hai tính từ dành cho cha và mẹ. Trong đạo Phật thì khác; Đức Phật là một người cha, hình ảnh của sức mạnh và của nơi nương tựa, nhưng lại đầy tình thương của một người mẹ, nên trong đạo Phật ngài được xem là đấng Từ Phụ. Nơi sản sinh ra Ngài đối với chúng tôi vừa là quê cha, quê hương của nguồn gốc của giống nòi, lại vừa là quê mẹ, quê hương của tình thương ngọt ngào.
Đến từ miền ôn đới Âu Châu chúng tôi đón nhận cái nóng hắt của Ấn Độ khi bước chân ra khỏi phi cơ như những ân tình nồng cháy của người cha hiền dành cho chúng tôi. Những đoạn đường chúng tôi đã qua, từng bước chân chúng tôi dò dẫm theo lối người xưa. Đây là Lâm Tỳ Ni trong hoang tàn đổ nát, nằm gần thành Ca Tỳ La vệ, một nơi mà chỉ còn lại là dư ảnh của ngàn xưa. Kia Bồ Đề Đạo Tràng với khung quang thanh nhã, với muôn người Phật tử đổ về để hưởng sái ánh hào quang đã tỏa ra từ nơi đây hơn 2500 năm về trước. Một vườn Lộc Uyển đơn côi như còn vọng về những âm thanh khi mà bánh xe pháp được chuyển lần đầu tiên, những chú nai như ngơ ngẩn kiếm tìm bóng dáng siêu thoát đã từng ngự nơi đây. Rồi cuối cùng chúng tôi đã dừng chân với nỗi ngẹn ngào tức tưởi trong thành Câu Thi Na bên bức tượng đẹp tuyệt vời của người xưa. Qua màn lệ mỏng hình ảnh Ngài như sống dậy, nét mỉm cười vượt khỏi không gian và thời gian như đang chê trách đứa con ngu: ‘Cha vẫn còn đây, nào đã mất. Ngày nào giới luật còn được giữ nghiêm minh thì ngày ấy ta còn hiện hữu ở cõi đời này.’

 
 

Trên suốt đoạn đường dĩ nhiên còn nhiều nơi mà đức Phật đã lưu lại những bước chân lịch sử. Một số nơi khác những đứa con Ngài đã làm rạng danh. Từng nơi, từng nơi chúng tôi đều tìm đến, đến để nhớ, để thương và để tìm thêm chất liệu cho cuộc hành trình đi về nẻo sáng. Cuộc hành trình tâm linh là kinh nghiệm cá nhân và không thể dùng lời mà diễn tả được, chỉ có cuộc hành trình trên con đường sỏi đá là có thể ghi lại mà thôi. Trong tâm trạng muốn sang xẻ nỗi niềm ấy với tất cả mọi ngườichúng tôi cố gắng ghi lại những lịch sử và quang cảnh của các Phật tích nơi Ấn ĐộDĩ nhiên với những kinh nghiệm non nớt và những tư duy ấu trĩ chúng tôi còn nhiều sơ xuất trong cuốn tài liệu này. Kính mong những bậc cao minh vui lòng góp ý chúng tôi chân thành nhận lãnh.
Chúng con cũng muốn nhân đây để tỏ lòng tri ân của chúng con đối với Thầy Bổn Sư, Thượng Tọa Thích Thượng Như hạ Điển viện chủ chùa Viên Giác Đức Quốc, và quý Hòa ThượngThượng TọaĐại Đức tăng ni trong giáo hội Phật Giáo Âu Châu, đã có công dạy dỗ, đào tạo và tạo nhân duyên cho chúng con có được những kinh nghiệm hôm nay và những phước duyên mà chúng con đã gặp trên quảng đường tu tập.
Chúng tôi cũng xin hồi hướng công đức đến tất cả quý Phật tử đã có công đóng góp bằng tất cả hình thức trực tiếp hay gián tiếpvật chất hay tinh thần, để giúp đỡ chúng tôi trên con đường tu học. Nguyện cầu cho tất cả chúng sanh mọi loài sớm quay về với ánh sáng giác ngộ và sớm bước lên quả vị giải thoát của bậc chánh giác.

Cung kính

 

Tỳ Kheo Thích Hạnh Nguyện
Tỳ Kheo Thích Hạnh Tấn-Vô Thức.


Chân thành cảm ơn quý tác giả và thầy Nguyên Tạng đã gởi tặng phiên bản điện tử của quyển sách này. (Tâm Diệu - 5-2000)

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

 

Lâm Tỳ Ni [Lumbini]

Lần đầu tiên đến Lâm Tỳ Ni là cả một kinh nghiệm cam go và đầy gian nan. Sau một chuyến xe lửa mệt mỏi tôi, thầy Hạnh Nguyện và thầy Minh Tánh đã đến Gorakhpur, một thị trấn tương đối lớn và tấp nập, nhưng lúc đó tâm tư tôi đâu có để mà ngắm cảnh. Trên chuyến xe lửa thầy Hạnh Nguyện khuyên tôi không nên đi Lâm Tỳ Ni, ‘vì ở đó cũng chẳng có gì cả, ngoài gạch đá đổ nát mà thôi’. Nhưng tôi đã cương quyết, đã đến Ấn Độ mà không đi Lâm Tỳ Ni thì thật tức cười. Khi đến Gorakhpur thì thầy Hạnh Nguyện cảm thấy mệt nên lấy xe buýt đi Câu Thi Na Thành trước vì từ đây đi đến đó cũng chỉ tốn khoảng thêm ba tiếng nữa thôi. Tôi và thầy Minh Tánh tiếp tục lên đường mặc dầu cũng không kém mệt. Trước tiên là tôi múa vé xe buýt đi tới biên giới Sonauli của Ấn Độ. Đoạn đường chỉ hơn 85 km mà tôi phải ngồi xe quá ba tiếng rưỡi, những đoạn đường đúng ra rất là lý thú nếu tôi không bận phải vịn cho khỏi tưng lên đụng đầu khi xe chạy vào những ổ đà điểu (không thể nào gọi là ổ gà được nữa vì nó đã quá là lớn). 

Khi đến biên giới lớ ngớ trời đã vào trưa mà trong bụng hai người tôi chưa có gì. Dừng lại bên một nhà hàng cũng có vẻ tươm tất lắm để đợi ăn trưa. Có lẽ vì quá tươm tất, mà sau khi ăn thì đồng hồ chúng tôi đã chỉ hai giờ chiều. Làm thủ tục giấy tờ ra khỏi Ấn Độ và xin Visa vào Nepal thật chẳng đơn thuần chút nào. Khi đó còn phải làm quá nhiều thủ tục, nhưng rồi tất cả cũng phải xong. Đi bộ qua bên kia biên giới tìm một chiếc xe buýt để tiếp tục cuộc hành trìnhChúng tôi đã vớ phải một chiếc xe chỉ chạy đến Siddharta Nagar, cách biên giới 4 Km. Nhưng cũng may một chặng đường nữa đã qua! bây giờ mới thật là đau khổ, đúng với nghĩa đứng giữa ngã ba đường, chúng tôi không biết tìm đâu ra một chiếc xe để tiếp tục đi. Sau 15 phút chờ đợi thì thời may có một chiếc xe Jeep được sửa làm xe chở khách trờ tới tôi phải chịu cảnh ngồi kẹp giữa một anh Ấn Độ hôi mùi hành và một chú bê hốt hoảng, chút chút là dậm chân, giật đầu. Thật là không biết bên ngoài phong cảnh ra sao chứ trong này tôi luôn phải phòng né những cú bò đá để không bị mang tiếng là đi năm châu bốn bể về bị bò đá trên chiếc xe thồ (mặc dầu là chú bò đó chỉ là một chú bê đi chăng nữa). Xe chạy cứ khoảng 1 Km là ngừng để cho khách xuống và đón khách lên. Đã hơn nửa tiếng rồi tôi không còn đếm số trạm ngừng nữa, đúng ra tôi cũng không được phép than vãn gì, vì cũng chính có những lúc xe ngừng như vậy mà chúng tôi có thể ngồi đây.

Sau hơn một tiếng rưởi đồng hồ để đi một đoạn đường 30Km thật là một vận tốc lịch sử! chúng tôi đã đến được Lâm Tỳ Ni trong một quang cảnh của ráng chiều. Có lẽ trời còn thương tôi, nên đã cho tôi cảm thọ Lâm Tỳ Ni trong ánh nắng đỏ ối này. Nếu tôi chỉ đến sớm hơn chừng nửa tiếng hay trể hơn một tiếng thì tôi đã oà khóc vì sự hoang tàng đổ nát của một thời là danh lam thắng cảnh của bậc đế vương. Nhưng ánh ráng đã cho thánh địa vay một chút huy hoàng thời xa cũ. Những đống gạch đá ửng lên như hồng ngọc, những chiếc lá bồ đề đong đưa trong gió như bằng vàng đỏ. Ngay cả ngôi đền thờ hoàng hậu Maya đổ nát cũng mang một ý nghĩa cao cả hơn. Chúng tôi vội vã đi kinh hành quanh đền và dừng lại chiêm ngưỡng phần còn lại của chiếc trụ đá A Dục. Ánh sáng lúc đó chỉ còn lờ mờ như khẳng định với tôi rằng tất cả sanh thể đều phải theo quá trình hủy hoại của thời gian. Tôi đành phải trở ra đường cái để đón xe về lại Ấn Độ. Lần này may mắn hơn tôi đón được chiếc xe chạy khá nhanh, nhưng cũng chỉ đến Siddharta Nagar mà thôi. Bấy giờ tôi không hề có ý tưởng là mình có thể ngủ lại đấy! thật lạ lùng! tôi và thầy Minh Tánh lủi thủi đi trong màn đêm, và giơ tay đón xe khi có một ánh đèn lóe lên từ phía sau. Cuối cùng chúng tôi cũng đã đến được biên giới Ấn Độ - Nepal sau một ngày mệt mỏi nhưng cũng thỏa mãn ước nguyện.

Lâm Tỳ Ni-Một thời vang bóng.

Giống như sư tử bước,
Nhìn khắp cả bốn phương,
Xuống đất đi bảy bước,
Nhân sư tử cũng vậy,
Lại như rồng lớn đi,
Khắp nhìn cả bốn phương,
Xuống đất đi bảy bước,
Đấng nhân long cũng vậy,
Đấng phúc trí sanh ra,
An lành đi bảy bước. 

Vào thời vua Tịnh Phạn vườn Lâm Tỳ Ni là một khu vườn đầy hoa tươi cỏ lạ. Trong vườn có đầy cây xanh và bóng mát. Vẻ đẹp của Lâm Tỳ Ni đã quyến rũ đến độ hoàng hậu Maya trên đường từ Ca Tỳ La Vệ về lại quê bà là Devadaha phải ngừng chân lại mà nghỉ và thưởng ngoạn.

Sau những dặm đường mệt mỏi được ngồi nghĩ chân dưới bóng răm của tàng cây xanh quả là một cảm giác nhẹ nhàng thoải mái. Trong tâm trạng đó hoàng hậu Maya vui chân theo những hàng hoa xinh tươi, bà mãi mê ngắm từng nụ tầm xuân đủ màu đang nhẹ nhàng hé cánh tơ đào để khoe sắc cùng thiên nhiên kề bên những nụ hoa đang độ đặm đà hương sắc và những nụ hoa tan tác lúc tàn phai. Mỗi một trạng thái thiên nhiên đều ẩn tàng những triết lý cao siêu và những vẻ đẹp không gượng gạo. Hoàng hậu đặc biệt chú ý đến một cây cổ thụ cao to có tàng thật rậm mát, trên cây muôn ngàn chim đang đua nhau hót như đón chào và mời mọc hoàng hậu quá bước. Bà vô cùng vui và nghĩ rằng muôn vật đang chung vui với bà trong niềm hân hoan với bầu thai muộn mà bà không nghĩ rằng mình còn cơ hội để đón nhận. Dầu sao với số tuổi 45Ạ bà không nghĩ mình sẽ có mang nữa.

Trong tâm tưởng bà, giấc mộng kỳ diệu kia vẫn còn như thật. Đôi khi bà tưởng chừng như mình thật sự cảm giác trạng thái nhồn nhột sung sướng khi chú voi trắng sáu ngà đưa chiếc vòi xinh xắn vào hông bà để mở đường cho một đóa sen tinh khiết. Ngày hôm sau, bà đã thuật lại giấc mộng cho nhà vua và nhà vua cũng cảm thấy giấc mộng phải mang một ý nghĩa gì quan trọng. Khi lâm triều ngài đã cho truyền các vị đạo sĩ đoán mộng. Thật không ngờ, tất cả đều dự đoán hoàng hậu đã thọ thai một hoàng tử có đầy đủ điều kiện để nối ngôi nhà vua sau này. Tháng ngày mõi mòn trôi, chưa bao giờ nhà vua và hoàng hậu cảm thấy thời gian đi chậm như lúc bấy giờ. Thời gian dần trôi, hoàng hậu xin nhà vua về lại quê để có thể sanh thái tử ở bên ngoạiMặc dầu nhà vua không an tâm để hoàng hậu ra đi nhưng vì đây là phong tục nên ngài đã phải ưng thuận và cho chuẩn bị một đoàn tuỳ tùng thật chu đáo.
Đứng dựa gốc cây hoàng hậu nghe lòng lâng lâng theo tiếng gió rì rào và tiếng chim hót líu lo trên cành, bỗng bà phải đưa tay vịn vào cành cây vì một cơn đau quặn. Từ bên hông phải bà đã hoài sanh một thái tử bụ bẫm mà không một chút bợn nhơ. Mặc dầu vậy, bà không khỏi ngạc nhiên khi tiếng sáo trời hoà cùng nhịp điệu của thiên nhiên. Từ trên không trung bỗng tưới xuống hai dòng nước một ấm một mát thơm ngạt ngào để thái tử tắm gội. Khi dòng nước tắt, ngài đã dõng dạt bước đi về phương đông bảy bước và lạ kia từ dưới đất những búp sen tuyệt trần đã nở ra để tránh gót chân ngài phải dính bụi trần. Một tay chỉ trời, tay chỉ đất ngài tuyên bố:

“Sẽ dứt khổ sanh tử,
Đương lúc Ta mới sanh,
Đã là đấng vô thượng,
Tự quán nhân sanh tử,
Thân này là sau cùng.
Trên trời dưới đất, duy chỉ có ta là tôn quý! 
Ta muốn độ chúng sanh thoát khỏi sanh, già, bệnh, chếtϼ/b>

Hoàng hậu không khỏi ngỡ ngàng trước những mầu nhiệm xảy ra xung quanh sự hạ sanh của Thái tử. Hoàng hậu cho thu xếp hành trang để về lại Ca Tỳ La Vệ. Nhà vua đã vui mừng đón tiếp phu nhân và đặt tên cho thái tử là Sĩ Đạt Ta (Người được mãn nguyện). Lễ đặt tên thái tử được cử hành long trọng, nhà nhà đều kết hoa, người người đều vui chơi. Tại hoàng cung tiếng sáo nhạc vang trời rượu chảy như suối thịt chất như non, trái cây được bày ra như những phẩm vật của cõi trời. Khi ấy ngoài cổng thành bỗng xuất hiện một đạo sĩ già nua đen kịt. Đạo sĩ này xin được vào yết kiến nhà vua, đoàn quân gát cửa chần chờ nhưng cũng tội nghiệp trước sự thành khẩn của ông ta nên cũng vào thông báo. Sau khi nghe tin, nhà vua nghĩ rằng hôm nay là ngày vui cũng nên cho ông ta triều kiến. Đạo sĩ già kia tự xưng là A Tư Đà, khi ông ta đang thiền định tại một khu rừng bỗng nhiên vào ngày trăng tròn tháng năm (lịch Ấn Độ) đất chuyển bảy lần, rông tóc ông đều rởn cả lên, thấy điềm lạ này ông liền xuất thiền đi vào phố thì được tin thái tử hạ sinhChủ đích ông ta đến cung cũng là để được nhìn mặt thái tử. Nhà vua rất hài lòng vì thấy sự ra đời của con mình mà phải khiến một vị đạo sĩ đức độ lìa khỏi nơi tu tập. Ngài ra lệnh thể nữ mang thái tử ra cho đạo sĩ xem mặt. Khi nhìn thái tử ngài A Tư Đà cười khan ba lần rồi lại khóc ba lần. Quá ngạc nhiên trước phản ứng lạ kỳ, nhà vua và hoàng hậu đều rời ngai vàng đến bên đạo sĩ để hỏi nguyên doĐạo sĩ cười vì theo phước tướng của thái tử thì phải là bậc đại đế trong đờitrị quốc an bang cái thế, còn nếu chọn đường thoát tục phải trở thành đấng trí tuệ giác ngộ cao siêu. Ngài đã khóc vì nhận ra mình quá già không còn cơ duyên để được nghe giáo lý siêu thoát từ kim khẩu của bậc, mà theo ngài sẽ là thầy của trời và người.

Bối Cảnh Lịch Sử.

 Lâm Tỳ Ni nằm trên một ngọn đồi thuộc chân dãy Hy Mã Lạp sơn (Himalaya), ngày nay thuộc vương quốc Nepal và trên đường từ thành Ca Tỳ La Vệ đi Devadaha. Theo các sử liệu thì thái tử Shiddharta đản sanh vào ngày Vesak (tức là ngày trăng tròn tháng năm theo lịch Ấn Độ) vào năm 624 hoặc 625 trước tây lịch.
Tuy rằng Lâm Tỳ Ni là một trong những nơi quan trọng của thánh tích Phật Giáo nhưng nhiều năm tháng đã bị bỏ hoang; ngay cả sau khi đã được nhà khảo cổ người Đức, ông Fóhrer, phát hiện vào năm 1895 qua tàn tích trụ đá vua A Dục (Asoka), nhân một cuộc du ngoạn dưới chân ngọn đồi thuộc rặng núi Churia.
Lâm Tỳ Ni, dầu ngày nay điêu tàn nhưng khi đại đế Asoka đến viếng thì vẫn còn là một thôn thịnh vượng có nhiều cảnh trí nên thơ. Nhà vua đã cho dựng bốn ngọn tháp và một trụ đá bằng sa thạch có tượng một con ngựa trên đầu trụ. Tiếc rằng ngày nay tượng không còn để các nghệ thuật gia có thể so sánh nó với tượng chú ngựa bay đời đường. Trên trụ đá ngày nay chúng ta vẫn còn thấy hàng chữ: “Sau hai mươi năm lên ngôi, vua PriyadarsiẠ, người được chư thiên yêu mến, đã thân hành viếng thăm và cúng dường cũng như lễ bái nơi đây, bởi vì đức Phậtthánh nhân dòng họ Thích, đã được sanh ra nơi đây.Ϡ

 
 

Lâm Tỳ Ni đã từng là nơi mà những nhà chiêm bái học giả như ngài Pháp Hiền vào thế kỷ thứ V và ngài Huyền Trang vào thế kỷ thứ VII cũng như ngài Thích Minh Châu vào thế kỷ thứ XX. Trong cuốn Phật Quốc Ký, ngài Pháp Hiền đã ghi lại như sau: “Năm mươi lý về phía đông của cung thành là một vườn ngự uyển mang tên Lâm Tỳ Ni; chính nơi đây hoàng hậu đã tắm rửa và sau đó đi về phía bắc khoảng hai mươi trượng bà vịn vào một nhánh cây, khi bà dõi mắt về phương đông bà đã sanh ra thái tử. Khi sanh ra, thái tử đã đi bảy bước và hai vị vua rồng đã phun nước để rửa thân thể ngài. Nơi này về sau đã được đào thành một cái giếng, ở đây nó giống như là một cái hồ, những nhà sư dùng nước trong đó để uống.ϠNgài Huyền Trang đã tường trình như sau trong cuốn ký sự của mình:“Từ cái giếng tên [tiễn tỉnh-nơi mũi lao của đức Phật ghim vào và tạo thànhẠ] đi về phía đông bắc 80 hay 90 lý gì đó, chúng ta sẽ gặp vườn Lâm Tỳ Ni. Nơi đây có một hồ tắm của giòng họ Thích, nước trong hồ chói sáng và trong suốt như một tấm gương, trên mặt hồ nở nhiều loại hoa.

Về hướng bắc cách hồ khoảng 24, 25 trượng là một cây hoa Vô Ưu, mà bây giờ đã tàn rụi; đây chính là nơi bồ tát đã ra đời vào ngày thứ tám hạ tuần của tháng Vaisakhatương ứng với ngày tám tháng ba của lịch ta. Thượng tọa bộ thì cho rằng ngày đản sanh nhằm vào ngày 15 của hạ tuần tháng đó, trùng với rằm tháng ba của ta. Phiá bắc của cây là một cái tháp được dựng bởi vua A Dục, chính là nơi mà hai con rồng đã tắm thái tử. Khi bồ tát hạ sanh ngài đã đi không cần ai dìu dắt về bốn hướng, mỗi hướng bảy bước và nói rằng: ‘Ta là vị chúa tể duy nhất trên trời và trên đất. Từ đây trở đi ta không còn sanh nữaϮ Nơi nào mà chân ngài chạm đến nơi đó nảy sanh một hoa sen lớn. Hơn tất cả, hai con rồng bay bổng lên và lượn trên không, từ trên đó phun ra một dòng nước lạnh và một dòng nước ấm để tắm thái tử.
Phía đông của tháp là hai cái vòi nước tinh khiết, bên hông đó được dựng lên hai cái tháp. Đây là nơi mà hai con rồng đã từ đất vọt lên. Khi bồ tát hạ sanh những thể nữ đã tuả đi tứ hướng để tìm nước cho việc tắm thái tử. Khi đó thì hai dòng nước ấm lạnh tuôn chảy từ đất ngay phía trước hoàng hậu, họ đã dùng nước đó để tắm rửa cho ngài.
Đi về phía nam cũng có một cái tháp. Đó là nơi vua trời Đế Thích Sakra đã đón bồ tát vào tay mình. Khi bồ tát hạ sanh từ phía hông bên phải của mẹ ngài, bốn vua trời đã dùng lụa vàng kim để quấn ngài, đặt ngài trên một cái mâm vàng và đưa cho mẹ ngài, họ nói: ‘hoàng hậu hãy vui mừng, vì đã khai sanh một đứa bé may mắn thế này’. Nếu chư thiên đã vui mừng như thế thì loài người phải mừng vui đến bực nào!
Bên hông của tháp này và không xa là một trụ đá lớn đã được dựng nên bởi vua A Dục, bên trên trụ là tượng một con ngựa. Sau đó một con rồng hung ác đã làm gãy đổ cây trụ ngay chính giữa. Bên hông nơi đó là một dòng sông nhỏ chảy về hướng đông nam. Những thôn dân nơi đây gọi là dòng sông dầu. Đây chính là dòng nước mà chư thiên đã hoá ra như là một hồ nước trong và chói rạng để hoàng hậu, sau khi sanh thái tử, tắm rửa. Bây giờ thì nó đã biến thành một dòng sông, mà nước của nó vẫn còn thấy nhớt.Ϡ

Theo hồi ký của ngài Minh Châu thì: “Ngày xưa cảnh vật tươi đẹp bao nhiêu, thì ngày nay khu vườn lại tàn tạ tiêu điều bấy nhiêu. Mặc dù có cây cối đền tháp, nhưng cảnh trí không được huy hoàng như xưa và nhất là không tốt đẹp như các thánh tích thuộc chánh phủ Ấn Độ mà tôi đã chiêm báiChánh phủ Nepal đang cố gắng sửa sang lại thánh tích này, nhưng có lẽ vì cách trở đường xá nên công việc chưa mấy kết quả! Tôi hơi buồn cho thánh tích tiêu sơ này.... Ϡ
Vào thế kỷ thứ XIV, 1314, vua Ripu Malla của tây Nepal đã đến đây chiêm bái và khắc tên mình lên trụ đá. Từ đó đến nay Lâm Tỳ Ni đi vào quên lãng. Mặc dù đã bị bỏ hoang từ nhiều thế kỷ trước, khi ngài Pháp Hiền và ngài Huyền Trang đến đây thì không còn có dân cư ở đó nữa, Lâm Tỳ Ni vẫn còn là một nơi chiêm bái cho những người Phật Tử. Sau khi được khai quật trở lại nhân vào đại hội Tăng Già Thế Giới lần thứ tư 1958 vua Mahendra đã cúng dường hơn 100.000,00 Rúp để trùng tu Lâm Tỳ Ni. Năm 1967 Tổng Thư Ký của Liên Hiệp Quốc U.Thant đã thành lập một hội đồng trùng tu Lâm Tỳ Ni và biến chương trình này thành một vấn đề quốc tế. Tháng 10 năm 1978 đại hội Phật tử thế giới tại Nhật đã tuyên bố năm 1979 là năm của Lâm Tỳ Ni.

Những chiến tranh tôn giáo đã tàn phá thánh tích Phật Giáo này và đưa nó vào quên lãng hơn sáu thế kỷ. Nhưng thông điệp của đức Phật đã bất diệt, lớn dần và trở nên quan trọng qua từng thế kỷ. Nhất là trong thế kỷ này Giáo lý Phật Đà lại càng có giá trị hơn bao giờ hết. Những lời dạy về từ bi, hoà bình, khoang dung và con đường giác ngộ đã được tất cả tôn giáo trên thế giới đón nhận.
Lâm Tỳ Ni, nơi thiêng liêng mà Phật giáo bắt đầu vào năm 623 trước tl., một lần nữa đã trở thành một trong những thánh tích tôn giáo lớn nhất thế giới.

Những di tích lịch sử.

Trụ đá A Dục: 
Ngày nay chúng ta đến Lâm Tỳ Ni thì, không còn gì nữa cả. Chỉ còn chăng là một trụ đá chơ vơ bị bào mòn bởi thời gian, và gãy đổ bởi giông bão. Trụ đá được bao bọc bằng một hàng rào sắt han rỉ đầy tiêu điều tang thương. Tất cả khách hành hương đều phải ngậm ngùi dừng bước nơi chân trụ đá để tụng một thời kinh như luyến tiếc không thể trở ngược thời gian để chứng kiến cảnh ra đời của một vị cứu thế. Trụ đá làm bằng một loại sa thạch, có lẽ ngày xưa cũng bóng láng như đầu sư tử tại viện bảo tàng Sarnath. Nguyên thỉ trụ cao bao nhiêu không biết, nhưng ngày nay chúng ta thấy một cây cột trên nhỏ dần, đường kính khoảng nửa thước và cao khoảng 5 thước. Trên trụ còn khắc hàng chữẠ như trên đã thuật, ngoài ra còn có thêm một hàng nữa là ‘dân làng Lâm Tỳ Ni được giảm thuế và chỉ phải đóng một phần tám thuế lợi tức mà thôi’

Đền thờ hoàng hậu Maya Devi: 
Kế bên trụ đá vua A Dục là một ngôi đền của hoàng hậu. Trong đó có một bức phù điêu chạm hình đức Phật hạ sanh, đây là nơi được cúng bái từ đầu kỷ nguyên tây lịch. Bức phù điêu diễn tả hoàng hậu đang giơ tay vịn cành cây với một đứa trẻ đứng thẳng người trên một toà sen, phóng một vòng hào quang tròn quanh đầu, trong khi hai nhân vật thượng giới đang tưới nước và rãi hoa từ những bảo bình để cúng dường.

 Bức phù điêu này đã được vua Malla của triều đại Naga dâng cúng, một triều đại đã cai trị vùng Karnali của Nepal vào thế kỷ XI đến thế kỷ XV. Ngài Minh Châu đã ghi nhận rằng đền thờ này bên trên còn rất mới trong khi nền đá dưới hiện rõ nét rêu phong.

 Những nhà nghiên cứu cho rằng đền thờ này được xây dựng trên nền của một ngôi tháp do chính vua A Dục cúng dường. Theo Tây Du Ký thì việc này rất có thể, vì ngài Huyền Trang đã ghi nhận kế bên trụ đá là một ngôi tháp đánh dấu nơi vua trời đế thích đã đưa tay đỡ thái tử khi hạ sanh.
Ngày nay đền thờ này đã được dời sang một căn chòi, ngay cửa vào vườn để nhường chỗ lại cho một phái đoàn khảo cổ sửa sang lại nền tháp.

Hồ nước: 
Không xa trụ đá là một hồ nước, đánh dấu nơi hoàng hậu tắm sau khi sanh thái tử. Đứng xa xa nhìn hồ nước vô cùng nên thơ, bầu trời phản chiếu trong nước một màu xanh ngọc bích, màu xanh da trời đã bị màu xanh rêu của nước biến thể đi, và tàng cây bồ đề to lớn với những cành dài vươn trên hồ như muốn tắm mình trong nước thật là nên thơ. Nơi này cũng được du khách ưa chuộng để làm phong cho những bức ảnh lưu niệm.

Một số nền tháp: 
Đã được khai quật chung quanh trụ vua A Dục như nhắc nhở ta trong cảnh tiêu điều ngày nay, vẫn còn vương vấn đâu đây hình bóng của một thời vàng son.

Các Tự Viện
Xưa nhất nơi đây có thể nói là chùa Tây Tạng gồm một chánh điện lớn với tượng bổn sư trong tư thế xúc địa ấn (tay chạm đất). Ngoài ra cũng còn nhiều tự viện đang được xây cất từ khi có chương trình tái thiết lập Lâm Tỳ Ni, trong đó Việt Nam ta cũng dự phần qua hai vị tiên phuông là giáo sư Lâm Trung Quốc -Thầy Huyền Diệu (Dr.Lam như những người Ấn Độ gọi) và sư cô Trí Thuận thuộc giáo hội Linh Sơn. Chùa Việt Nam Lâm Tỳ Ni của gs Quốc đã gần xong dãy nhà khách đồ sộ sẽ ‘được các đệ tử Âu Mỹ của Thầy trợ giúp và thiết kế sang trọng để đón các bậc quốc khách, riêng phật tử Việt Nam thì mỗi người được phép ở lại 1 ngày trong đời mình miễn phí϶à đang tiến hành xây chánh điện. Trong khi đó thì phái đoàn của hoà thượng Linh Sơn cũng đã sang Ấn Độ năm 1995 để làm lễ đặt viên đá đầu tiên cho chùa do sư cô Trí Thuận đứng ra đảm trách xây.

Để viếng Lâm tỳ ni.

Quý Phật tử có thể từ hai ngã đến Lâm Tỳ Ni, một trực tiếp từ ngã Nepal qua phi trường Kathmandu, rồi chuyển máy bay đi Bhairawa, một nơi cách Lâm Tỳ Ni khoảng 18 Km. Sau đó thì lấy taxi để đi tiếp.
Ngã thứ hai đi từ Ấn Độ. Phần đông quý vị hành hương đều theo ngã này. Sau khi viếng thăm Câu Thi Na Thành, hay trên đường đến Câu Thi Na Thành cũng thếphái đoàn phải băng qua một tỉnh mang tên là Gorakhpur. Từ Gorakhpur đến biên giới Ấn Độ - Nepal, Sonauli khoảng 140 km. Sau khi xong thủ tục hành chánh phái đoàn tiếp tục cuộc hành trình khoảng 40 km nữa.
Trong trường hợp quý vị nào thích làm lữ hành riêng lẽ thì phải chọn nhà ga Gorakhpur làm điểm trục dầu mình đến từ đâu đi chăng nữa. Từ đó mới đổi xe bus đi Sonauli và sau khi ‘vượt biên’ thì đi tiếp tục xe bus vào Lâm Tỳ NiDĩ nhiên là vẫn có những trường hợp xảy ra như kinh nghiệm tôi đã được. Dĩ nhiên là an toàn hơn hết là mướn một chiếc Taxi đi từ Gorakhpur.

 Ngủ lại đâu?

Là một vấn đề mà nhiều khách hành hương thường băng khoăn. Ở một nơi thánh tích như thế tất nhiên là có nhiều nhà trọ, thí dụ:
Lumbini Guest House hay
Nepal Goverment Guest House, nhưng nếu quý vị nào không quen có thể cho rằng những nơi đó không được vệ sinh lắm.
Ngoài ra còn có một khách sạn của Nhật HOKKE rất sang trọng và sạch với giá biểu đặc biệt .... mắc.
Một phương cách nhẹ nhàng và dễ chịu hơn, là đi lùi lại cách biên giới khoảng 4 Km. Thị trấn Shiddarta Nagar rất phồn thịnh và cũng là nơi mua sắm đồ ngoại với giá đặc biệt rẽ. Tại đây có những khách sạn đủ cỡ đủ hạng, tôi đặc biệt giới thiệu:
Khách sạn Nirvana (tel.&fax. 977-71-20837) mới vừa khánh thành tháng 10 năm 95 với những nhà tắm hơi và tiệm ăn tương đối hạp khẩu vị. Khách sạn tuy bốn sao nhưng so với Ấn Độ thì phải cho vào hạng năm sao deluxe. Giá phòng chiếc khoảng 120 và phòng đôi khoảng 150 Mỹ kim.
Ngoài ra cũng còn có một khác sạn loại trung bình ngay tại ngã tư đường, đó là khách sạn Maya. Khách sạn này giá biểu bình dân, nhưng nhà hàng lại không được tiện nghi cho lắm.

 

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

Ca Tỳ La Vệ [Kapilvastu]

Đã đến Lâm Tỳ Ni mà không vào Ca Tỳ La Vệ là một thiếu sót không nhỏ. Với ý nghĩ đó tôi đã rời khỏi Lâm Tỳ Ni trong niềm xót xa vì trời đã quá tối mà chúng tôi còn phải rời khỏi Nepal để về lại Câu Thi Na Thành cho đúng hẹn với thầy Hạnh NguyệnNgày xưa tôi không hiểu câu ‘tuy chân đã bước mà lòng còn quyến luyến’ cho lắm, vì với tuổi còn quá trẻ chúng tôi cũng chẳng có gì nhiều để luyến lưu và nhất là đốivới một con người sống hời hợt với tất cả như tôi. Thật sự bây giờ thì đã rõ, niềm bịn rịn làm khó chịu vô cùng và tôi nguyện rằng đừng bao giờ phải có cái cảm giác ấy lần thứ hai, vì nó thật không hợp với những nguyên lý sống của chúng tôi.

Dĩ nhiên lần thứ hai chúng tôi đến Lâm Tỳ Ni và chuẩn bị đi Ca Tỳ La Vệ trong một niềm hân hoan nhẹ nhàng. Chúng tôi viễn vọng một cố đố Huế qua kiến trúc của Ấn Độ, thật là một hành động viễn vong, là con nhà Phật đúng ra chúng tôi không nên để cho địch làm chủ tình hình mà phải thật chính chắn đếm từng hơi thở chờ đến nơi. Nhưng than ôi, chúng tôi lại đi nhằm ngày lễ tạ điền của dân bản xứ, trên đường phố chật đầy người, chưa bao giờ vùng này có nhiều phụ nữ ngoài đường như thế! Những tà Sari muôn màu rực rỡ bay phất phới như cánh bướm vờn hoa. Nam thanh nữ tú cùng ông cả bà già và trẻ em người lớn, đều đổ cả ra đường hay đúng hơn ra đồng để tạ ơn ruộng đã cho họ một mùa đầy lợi tức. Dĩ nhiên trong niềm hân hoan đó họ đã hít vào buồng phổi những mạn bụi đỏ như sương đang bay khắp nơi vì bị những gót giày vô tư khuấy động, và bởi mấy chiếc bánh của chiếc xe buýt gắn máy lạnh của chúng tôi. Thật sự mà nói thì Ấn Độ cũng còn tệ lắm, họ tưởng rằng những người đến từ Âu Mỹ là người xứ tuyết, nên máy lạnh trong xe của họ chỉ có hai nấc, mở và tắt. Những thanh niên nam nữ trong phải đoàn trên ngũ, lục tuần đều phải khoác thêmáo lạnh khi bật máy. Nhưng trên đoạn đường này thì không ai còn để tâm than lạnh nữa, vì nếu không mở máy thì phải mở cửa sổ. Mà nếu mở cửa thì phái đoàn sẽ được nhìn thế giới qua màu hồng.......của bụi. Dầu vậy cũng có những chàng bụi hiếu kỳ đã lòn qua khe hở để làm quen với những cánh mũi xinh xinh (đầy nếp nhăn), làm bà con phải sặc và ho dữ dội.

Từ Lâm Tỳ Ni đến Ca Tỳ La Vệ cũng không xa chỉ 19 km mà xe phải chạy gần một tiếng đồng hồ. Và đó cũng chính là nguyên nhân mà chúng tôi đã bị thầy bổn sư khiển trách, khi dẫn phái đoàn thứ hai đến thăm Ca Tỳ La Vệ hơn một năm sau đó. Lần này thì chúng tôi quyết định đi Ca Tỳ La Vệ trước khi ghé lại Lâm Tỳ Ni vì bổn sư chúng tôi có mối liên hệ mật thiết với GS Quốc, nên muốn dừng chân lại Việt Nam Lâm Tỳ Ni Tự một thời gian kha khá. Khi tới ngã ba đường rẽ trái đi Ca Tỳ La Vệ và phải đi Lâm Tỳ Ni. Tôi đinh ninh là gần tới rồi, vì chỉ còn 19 Km thôi mà. Thế là tôi tạm gọi là nhắm mắt dưỡng thần, bất thình lình xe giồng làm tôi thức giấc ngó ra phong cảnh quen quen, tánh nào tật nấy tôi mau mắn buột mồm bảo gần tới rồi, bà con hăm hở lắm. Tôi lại yên chí ‘dưỡng thần’. Qua hai ba lần gần tới của tôi ông cụ bổn sư nhẹ lời ‘mắng yêu’, “mấy chú này thiệt là dỡ quá đi thôi, đã đi rồi đi lại mà còn không nhớ đường“ làm chúng tôi thẹn đỏ cả người. Nhưng cũng may không bao lâu nữa thì xe dừng lại làm tôi nhẹ nhõm.

 Từ chỗ xe đậu phải đi bộ thêm vài phút băng qua một làng quê giống như những làng mạc miền tây, có những rặng tre gai đong đưa trong gió rì rào, có những chú trâu nằm gác mõm trên thành chuồng đưa đôi mắt với hàng mi dài, mà bao thiếu nữ mong mình có được, ngơ ngác nhìn khách bộ hành và dĩ nhiên là có những bãi phân trâu, phân bò trên đường đất đỏ. Phái đoàn bước vào khuôn viên của cố đô Ca Tỳ La Vệ. Lần đầu tiên nhìn thấy Ca Tỳ La Vệ, trong tôi chết đi một phần nào sự hy vọng ở thời gian, nó quá phủ phàng không biết lịch sự với bất cứ ai, không biết vuốt ve mơn trớn một người nào. Thời gian tàn nhẫn xóa đi lịch sử. Tôi còn nghe như văng vẳng bên tai những câu hát của các em trong gia đình Phật tử hát về kinh thành của thái tử Sĩ Đạt Ta, mà hình ảnh đó chỉ còn trong thơ và nhạc. Ngày nay không còn gì nữa cả. Cảnh tiêu sơ làm chạnh lòng người. Một vương quốc mà còn phải chịu sự chi phối của định luật thế gian nữa là những con người bé nhỏ. Nếu ai còn chưa hẳn tin tưởng lời dạy của Thế tôn về sự ‘thành trụ hoại không’ của cuộc đời thì hãy đến Ca Tỳ La Vệ. Vài hòn gạch lơ thơ nằm rãi dài theo bờ kẽm gai sét rỉ. Những tàng cây sum xuê với hoa màu lửa vào những tháng xuân sang, cũng không làm vơi đi sự hoang tàn. Một vài tấm bảng với những hàng chữ ghi lại những nơi quan trọng, chẳng hạn thái tử đã vượt thành từ đây. Từ ngày đó chúng tôi nghĩ rằng mình có thể sẽ không trở lại đây nữa. Trừ một kiếp nào còn xa diệu vợi, khi thời cơ đã đến, khi chính bản thân mình sẽ thị hiện để chuẩn bị chuyển pháp luân. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật, nhưng lâu hay chậm là tuỳ theo từng cá nhân thôi. Nơi đây cũng có nhiều dấu tích để kỷ niệm những vị Phật thời quá khứ đã thị hiện, như Phật Ca Diếp, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. Thì chắc chắn rằng một ngày nào đó trong vài ba a tăng kỳ kiếp nữa thì chúng tôi và quý vị cũng được lập bia kỷ niệm. Nhưng dĩ nhiên chúng ta đều phải nổ lực thực hành lời dạy của Thế Tôn.

Ca Tỳ La Vệ 
Một Thời Vang Bóng.

Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Thật vui sướng nhiệm mầu,
Phước Bồ Tát cùng cực,
Vui chơi trong hoan lạc.

Kinh thành Ca Tỳ La Vệ tuy không phải là một vương quốc lớn nhưng cũng vô cùng trù phú. Tương truyền rằng khi xưa Ca Tỳ La Vệ là một khu rừng hoang, khi đó một vị thánh giả Kapil Gautama (tạm dịch: Ca Tỳ Cồ Đàm) đã khuyên thái tử Ikshwaku đến đó để lập nghiệpThái tử được mọi người biết qua tên Shakya đã nghiễm nhiên trở thành Shakya Gautama và đặt tên cho vương quốc của mình là Kapilvastu (Ca Tỳ La Vệ). Thái tử Sĩ Đạt Ta đã xuất thân chính từ dòng dõi này.
Thái tử đã sống một thời gian trong kinh thành vô cùng hoan lạc. Ngài đã là niềm vui của nhà vua và là niềm an ủi vô vàn; Khi hoàng hậu Maha Maya từ trần sau bảy ngày thái tử đản sanh, nhà vua đã đặt tất cả tình thương vào thái tử. Dì của ngài, Maha Ba Xà Ba Đề đã làm nhũ mẫu nuôi ngài.

Thái tử càng lớn càng thông minh, không bao lâu tất cả các vị thầy dạy ngài về toán học, triết học và binh thư giáo lý v.v tất cả những gì một vị vua tương lai phải biết, đã phải thừa nhận rằng mình không còn gì để truyền đạt nữa. Đôi khi cái nhìn của thái tử còn sâu hơn sự hiểu biết của những vị thái học sinh. Không những ngài có năng khiếu về văn học mà ngay cả các môn thể thao võ nghệ ngài đều thông suốtMọi người trong hoàng tộc đều phải công nhận thái tử quả là một người xứng đáng để thừa kế ngai vàng mai hậu.
Một mùa xuân đẹp trời, sau khi những tia nắng ấm đã xua đi cái lạnh lẽo của một mùa đông khắc nghiệt, vua Tịnh Phạn đã cho mở một hội thi thể thao. Các vương tôn công tử của dòng Thích Ca đã nô nức đi dự cuộc tranh tài, nhất là khi có tin công chúa Da Du Đà La con vua Thiện Giác cũng có mặt trong hàng khán giả. Công chúa nổi tiếng là người đẹp đương thời và bao nhiêu vương tôn quốc thích đều ao ước được mắt xanh nàng lưu ý.

 Quả nhiên tiếng đồn không ngoa, trên hàng khán đài công chúa đã nổi bậc trong màu áo màu xanh nõn nà như cái tuổi của nàng. Ánh nắng ban mai làm hồng đôi má đào tơ, hai cặp mắt thơ ngây đang từ từ đi vào tuổi mộng mơ say mê theo dõi cuộc tranh tài. Sở dĩ nàng hiện diện trong buổi tranh tài ngày hôm nay cũng vì tò mò muốn một lần nhìn tận mắt con người mà các thể nữ của nàng cho là rồng phụng trong loài người. Những câu chuyện về người đó đã được bọn thể nữ chuyền nhau kể và đã đến tai nàng. Trong các chuyện nàng thích nhất là hình ảnh của một thái tử nhỏ mặt mày thanh tú đang ôm một chú thiên nga trắng toát một bên cánh lại trúng tên và màu máu nổi bật trên màu tuyết của những chiếc lông vũ. Con chim không may mắn kia đã bị hoàng tử Đề Bà Đạt Đa bắn rớt và thái tử đã đón được khi nó rơi xuống. Không chần chờ, thái tử đã rút mũi tên và băng bó con chim tội nghiệp kia. Từ đó cô công chúa bé đã có cảm tình với chú thái tử nhỏ nhưng đầy tình thương kia. Ngày qua ngày hình ảnh kia đã thay vào bằng bóng của một chàng thái tử oai hùng với đôi mắt chứa đầy linh mẫn.

Tâm tư nàng bị cắt ngang vì tiếng reo hò vang dậy khi từ xa một đoàn ngựa đang phi đến. Dẫn đầu là thái tử trong một bộ đồ kyã bó sát thân màu hoàng kimThân hình chàng như được tạo bằng ánh sáng, từ đôi mắt chàng tia ra những luồng chói lọi, công chúa dường như ngột đi vì cái cảm xúc chợt đến khi bắt gặp ánh mắt của chàng. Con ngựa bạch của chàng có màu lông sáng như bạc, nó khôn ngoan ngừng lại khi thái tử đến đích. Thái tử vung cánh tay rắn chắc và phóng một ngọn lao. Tiếng lao xé gió nghe như tiếng rú của một làn sét, mọi người đua nhau vỗ tay tán thưởng, tiếng cổ võ của khán giả làm rung chuyển một vùng nhưng lạ thay vẫn không át nổi tiếng rú của ngọn lao. Khi ngọn lao rơi xuống, một tia nước từ nơi đó đã phụt ra.

 Trong khi đó thì những vị vương tôn cũng đã lần lượt đến và phóng lao, nhưng không ai nào có thể phóng xa như thái tửMọi người đều ào lại để chúc mừng thái tử thắng giải. Trong lúc mọi người vui cười thì quốc thích Đề Bà Đạt Đa lại lặng lẽ bỏ đi trong niệm hận và giận vô biên. Chàng ta lấy làm tức giận và trách Phạm thiên, đã tạo một Đề Bà Đạt Đa lại còn sanh thêm một Sĩ Đạt Ta. Từ bé đến giờ Sĩ Đạt Ta luôn là một cái gai trong mắt của chàng, bất cứ hành động gì mà chàng lỡ phạm đều bị khiển trách và thái tử đều được đem ra làm tấm gương để chàng noi theo. Không có gì đáng chán và đáng bực hơn thế, thay vào lòng xấu hổ ban đầu là lòng tức giận và căm hận. Ngày càng lớn thì niềm hận càng sâu, vì thật sự chàng đâu phải là người không có khả năng, nhưng khổ nỗi thái tử lúc nào cũng hơn chàng, từ diện mạo cho tới tài năng. Trong buổi thi này chàng đã cố gắng đạt giải, để cho mọi người biết rằng Đề Bà Đạt Đa cũng có mặt hơn Sĩ Đạt Ta chứ. Nhưng không may, khi gần đến đích thì vì quá nóng nảy nên chàng đã thả lỏng dây cương hơn, và con tuấn mã của chàng bị vấp! Chàng không còn tâm trí nữa để mà nhìn cảnh mọi người tung hô vạn tuế thái tử đáng hận kia. Trong tư tưởng đăm chiêu chàng bị một thớt voi chận đường, chàng lách sang phải thì thớt voi lại tràn sang phải, chàng lách trái thì con tượng lì lợm kia lại quay sang trái, mặc dầu anh cai voi tha hồ hò hét điều khiển. Bực mình chàng nhìn thớt voi được trang hoàng lộng lẫy kia, chàng hỏi anh cai là voi của ai. Anh cai trong sự vô tư đã trả lời voi đi rước thái tử và lại còn nổ ra một tràng lời ca tụng. Đang cơn hận Đề Bà Đạt Đa vung tay vỗ vào đầu con vật khốn nạn kia, con vật của người mà chàng hận, con voi chỉ kịp rống lên một tiếng ngắn và gục xuống ngay giữa đường bít cả lối đi. Hả nư chàng bỏ đi và nghĩ rằng để xem thái tử sẽ làm sao với con voi chết kia. Trong khi đó thì trên đường xe cộ bị ứ lại và mọi người xôn xao bàn tán về tánh hung bạo của chàng và về sức mạnh đáng sợ kia. Hoàng tử Nan Đà cũng bị chận đường nên rẽ đám đông tiến tới, khi chàng nghe dân chúng thuật lại chuyện con voi bị đánh chết, chàng chỉ cười và hất con voi sang vệ đường để tạo lại giao thông. Sau đó thái tử đến và hỏi tại sao con voi lại chết, mọi người đã thuật lại: ‘chính hoàng tử Đề Bà Đạt Đa đã đánh nó chết và dùng thân nó bịt cửa thành không cho mọi người ra vào, hoàng tử Nan Đà đã hất nó sang bên để dọn đường’. Thái tử trong niềm xót thương đã nâng cao con voi lên và quẳng nó ra khỏi tường của kinh thành. Khi von voi rơi xuống nơi đó đã bị ấn sâu xuống thành một hố sâu và rộng. Mọi người từ đó gọi nơi đó là hố voi rơi.

 Sau cuộc thi thái tử trở về cung điện mùa xuân của chàng. Vừa bước qua ngưỡng cửa, những mùi hương hoa thơm ngát đã làm ngất ngây hồn người. Chàng thích nhất là Xuân Hoa Điện này, nơi đây mỗi khi chàng ngự lại tiếng chim hòa cùng tiếng nước chảy làm cho tâm thần chàng sảng khoái. Những cây hoa đượm đầy cành đua nhau khoe sắc. Chàng đôi khi không hiểu tại sao phụ vương chỉ cho mở cửa điện này trong bốn tháng đầu năm. Dĩ nhiên chàng vẫn thích những cung điện mùa hè mát mẻ với những nền gạch lúc nào cũng được giữ mát lạnh bởi những dòng nước chảy bên dưới nền. Những thân cây bàng tươi mát, những gốc Phong với các nhành lá reo vui trong gió, những cây bách ưởn ẹo như những cô gái đang ẻo lã nô đùa. Lúc nào tai chàng cũng được nghe những tiếng hát ngọt ngào của bọn thể nữ hoà cùng cung điệu của tiếng đàn tiếng sáo. Cung điện mùa đông của chàng cũng không kém đẹp não nùng; đứng bên sau song cửa nhìn xa xa lên ngọn Hy Mã Lạp Sơn trắng xoá, chàng cảm nhận một sự tinh khiết tuyệt trần. Màu tuyết trắng làm thư thái thần kinh của chàng. Trong cung điện mùa đông này mọi màu sắc đều nhắc nhở chàng đến những ngày nắng ấm của những tháng trước. Chiếc thảm nhung đỏ vương giả, những cây cột gỗ cẩn ngọc long lanh, những lò sưởi bập bùng.
Hầu như chàng đều có cái cảm nhận tự nhiên, khi nào phụ vương sẽ cho người đến vời chàng sang một điện khác và đóng cửa một cung điện mà cái tên của nó đi liền theo với thời tiết của thiên nhiên. Hôm nay chàng cảm thấy tù túng lạ, sau cuộc thi tài ngoài thoáng, cung điện đẹp đẽ của chàng bỗng trở nên chật hẹp. Trái với thông lệ, chàng không tâu qua cùng phụ vương mà cho Sa Nặc thắng xe tứ mã trở ra ngoài cung thành. Sa Nặc đã lanh lẹ cho xe đến và hai chủ tớ ra đi. Mọi người không ai ngạc nhiên khi thấy thái tử lại ra khỏi thành, khi vừa mới trở về. Trong đầu dĩ nhiên ai cũng nghĩ thái tử đi thăm nàng Da Du Đà La kiều diễm vừa mới làm quen sáng nay. Thái tử thì lại không nghĩ gì cả về nàng công chúa kiều diễm kia, tâm trạng chàng hiện giờ chỉ muốn thoát khỏi cái nguyên tắc khắt khao của đời sống vương cung. Nhất nhất phải tuân hành theo thời gian, nên không gian đã dường như cũng bị đong lại làm nghẹn cả buồng phổi chàng. Nhưng tâm tư chàng không phải bận lâu, vì những cảnh sinh hoạt của thần dân làm chàng kinh ngạc vô cùng. Bao nhiêu lần chàng xuất cung nào đâu có những cảnh như ngày hôm nay. Hôm nay đâu là những tà áo hội xinh tươi đẹp đẽ, dân chúng thành Ca Tỳ La Vệ dường như xuống sắc hẳn đi trong những bộ y phục mà chàng chưa từng nghe nói đến chứ nói chi là thấy qua. Những người đàn ông trong những chiếc doti bạc màu và những chiếc áo không còn nhận ra sắc thái nguyên thỉ, dĩ nhiên thấp thoáng đâu đây những màu áo mà chàng quen thuộcNgạc nhiên, chàng đã hỏi Sa Nặc: ‘Hôm nay là ngày đặc biệt ư, sao dân chúng Ca Tỳ La Vệ lại trang phục dị kỳ?’. Sa Nặc cũng ngạc nhiên không kém: ۡ thái tử, đây mới là trang phục bình thường của hàng hạ dân. Ngày ngày vẫn là cảnh trạng như thế này không khác’. Thái tử không tin hỏi vặn tiếp: ‘Nhưng những khi trước ta nào thấy cảnh tượng này?’. Sa Nặc vỡ lẽ: ‘Những lần trước vì nhà vua đã ra lệnh cho chúng dân không được làm việc khi thái tử xuất cung và phải y trang thật lộng lẫy để đón chào thái tử’. Trong tâm thái tử bỗng trống trải lạ thường, thì ra từ trước đến nay phụ hoàng đều sắp đặt tất cả, ngài muốn tạo cho ta một cái hiểu biết sai lạc về đời sống của thần dân, là vì lẽ gì? Làm sao ta có thể trị vì khi không hiểu rõ cảnh sinh hoạt của dân mình? Hôm nay ta phải đi khảo sát cho thật tận tường. Thế là chàng cho xe đi khắp các cửa thành, ngắm nhìn dân chúng sinh hoạt, nào kẻ cày người cấy, nào kẻ gánh người khuân, những cảnh chân lấm tay bùn thay nhau hiện ra dưới mắt chàng. Đặc biệt là những người có vẻ khác biệt đều gợi cho chàng không ít tò mò. Chàng đã được giải thích, người nằm kia co quắp chính là ông lão bệnh phong cùi mà Sa Nặc vẫn thường ghé cho mấy mẩu bánh khi hắn về thăm gia đình. Nọ là bà lão làng hạ vì không có con cháu nên vẫn phải ngày ngày lủi thủi lê cái thân ốm yếu run rẩy vào chợ xin cho một buổi ăn. Cảnh thiêu người chết làm chàng hãi hùng hơn cả, trong phút chốc cô thiếu nữ yểu mạng xinh đẹp kia chẳng còn lại gì ngoài những nắm tro bay tản mát trong gió chiều. Tâm tư triểu nặng chàng cho Sa Nặc quay xe về kẻo phụ hoàng chờ mong. Chiều hôm đó, trong bữa ăn chàng luôn luôn nhớ đến những việc mình vừa phát hiện. Đã hai lần chàng không nghe phụ hoàng nói gì phải hỏi lại. Nhà vua ngạc nhiên hỏi chàng có điều gì băn khoăn, chàng chỉ cười: ‘thưa phụ hoàng chỉ vì hài nhi buổi trưa này đã lén cha ra thành, thấy một số cảnh trạng lạ mắt đến giờ vẫn còn nhớ mà thôi’. Nhà vua không nói gì, nhưng hôm sau khi lâm triều ngài đã truyền các quan cận thần bàn phương cách, vì nhà vua vẫn không sao quên lời tiên tri của bậc thánh giả A Tư Đà, nhất là khi nhìn thấy đôi mắt đăm chiêu của thái tử một niềm lo sợ đã len vào xương tuỷ nhà vua. Quan thượng thư liền tâu: ‘tâu bệ hạ, theo hạ thần nghĩ là bệ hạ nên cưới cho chàng một vương phi, khi con vợ đùm đề thì chàng sẽ say trong niềm hạnh phúc của gia đình mà quên đi tất cả chăng!’, thừa tướng cũng thưa: ‘tâu bệ hạ, thần nghe nói nhan sắc của công chúa Da Du Đà La nguyệt thẹn hoa nhường, sáng hôm qua thái tử cũng đã làm quen với nàng. Theo ngu ý, nàng là nhân tuyển thích hợp nhất.’

Hai tháng sau kinh thành Ca Tỳ La Vệ treo đèn kết hoa mừng ngày công chúa Da Du Đà La được phong vương phiMọi người đều vui vẻ chúc mừng cặp trai tài gái sắc có một không hai. Chàng thái tử oai hùng làm tăng vẻ yêu kiều của vợ mình và nàng công chuá nhan sắc làm tăng nét dũng mãnh của nhà vua tương lai như mọi người mong đợi.
Thái tử mãi mê trong niềm vui mới, nàng Da Du Đà La rất mực chiều chồng, một người vợ lý tưởng. Không bao lâu thì niềm hạnh phúc của cặp vợ chồng trẻ được tăng thêm qua tin Da Du Đà La mang thai. Sau khi hoàng tử La Hầu La được sanh ra thái tử cảm thấy đời mình đầy đủ tất cả, vợ đẹp con thơ. Chàng không thấy chán khi nhìn La Hầu La, nó là sự nối kết giữa chàng và nàng, là một sản phẩm của tình yêu hai người. Bỗng nhiên trong niềm vui một hình ảnh đã len lén đi vào tâm khảm của chàng. Hình ảnh của những cảnh già chết mà chàng đã mục kích khi trước. Tim chàng thắt lại, khi nghĩ đến cái thân hình yêu kiều của Da Du Đà La phải bị ngọn lửa thiêu rụi, hay La Hầu La bụ bẫm kia phải gầy nhom dưới cơn bệnh hoành hành. Chàng suy nghĩ đến một con đường đưa những người thân yêu của mình ra khỏi những quy luật của thiên nhiên.

Một buổi sáng khi chàng đang trầm tư theo dõi những suy nghĩ về cách giữ lại những niềm vui vĩnh cửu thì chàng thấy thấp thoáng một bóng vàng ngoài cổng hoàng cung. Từ ngày thái tử mục kích cảnh sinh hoạt hằng ngày của dân chúng, nhà vua không còn ngăn cấm chàng nữa và cửa thành cung cũng không còn im lìm đóng chặt. Cái dáng thong dong kia dừng lại trước cổng hoàng cung, đứng lặng yên. Một con người rất lạ, chàng chưa từng thấy qua bao giờ. Hiếu kỳ chàng gọi một người cận vệ đang đứng gần: ‘này, người kia là ai xem rất lạ, sao ta chưa từng gặp qua bao giờ?’. Tên cận vệ kính cẩn thưa: ‘bạch thái tử, đó là một trong những người Sa Môn, họ là những người lià bỏ đời sống bình thường và đang trên đường đi vào đại thể của Phạm thiên. Họ chỉ mới đến Ca Tỳ La Vệ được hai ngày thôi, thần nghe họ sẽ rời nơi đây ngày mai để tiếp tục lên đường.’ Thái tử vội đi đến gặp người sa môn kia: ‘xin chào sa môn, tại sao ngài lại đứng lặng yên nơi đây’, sa môn kia mắt vẫn nhìn xuống tay nâng bình bát nhẹ nhàng đáp: ‘xin thưa, những người sa môn sống nhờ vào khất thực, tôi đứng đây cũng đang chờ ngài bố thí cho’. Chàng hỏi tiếp: ‘tại sao ngài lại làm Sa Môn mà không sống đời sống gia đình?’ Sa môn đáp: ‘vì tôi muốn thoát khỏi luân hồi, sanh lão bệnh tử.’ ‘Làm sao có thể thoát được?’ thái tử hỏi dồn. ‘Khi đã đi vào đại thể của bậc Phạm thiên thì tất cả sanh già bệnh chết đều dứt’. Nghe được điều đó thái tử vui mừng ra lệnh ban cho sa môn đồ ăn rồi quay vào hoàng cung.

Ngay sau đó chàng đã vào hội kiến nhà vua và tỏ ý định xuất ly của mình. Nhà vua đã sững sờ nghe chàng nói, trong đầu ông ta không ngớt làm việc trong khi những lời phân trần của thái tử chỉ thoáng qua bên tai ông. Trong ông là cả một trời tan vở. Bao nhiêu tháng năm hoài vọng, bao nhiêu công phu giữ gìn, bao nhiêu tâm huyết đã bỏ ra để ngày hôm nay không trở thành sự thật, nhưng tất cả đều không tránh khỏi định mệnh khắt khe! ‘Nhưng ta không thể nào bỏ cuộc, không thể chịu thua trước định mệnh’ ông quyết định như thế. Với tất cả nghiêm nghị ông ta ra lệnh: ‘ta không cho phép con bỏ tất cả trách nhiệm, giang san này, gia đình này và con nhỏ của con!’ Thái tử liền thưa: ‘chính vì trách nhiệm mà con phải ra đi, không những đối với quốc gia này mà còn đối với tất cả mọi người, chính vì tất cả những người thân mà con phải ra đi. Cha à, cha có thể cho con những gì? Cha với quyền uy của một vị vua có thể giữ cho tất cả mọi người đều tươi trẻ vĩnh cửu chăng, có thể ban bố cho thần dân sức khoẻ tương tục không, và quan trọng hơn hết có thể giữ mạng của tất cả mọi người đời đời không? Những gì quý nhất đã không giữ được thì còn giữ gì nữa chứ. Cha có thể giữ xác thân con nhưng còn tâm hồn con thì sao, con sẽ héo mòn trong cung cấm’. Nhà vua trong cơn thất vọng không muốn nghe thái tử nói thêm, ngài khoác tay ra hiệu cho chàng lui ra và ra lệnh cho lính canh đóng các cửa thành, không cho bất kỳ một ai xuất thành mà không có lệnh nhà vua. Thái tử sau khi thấy vua cha không vui, ngài đã cúi đầu chào biệt trong niềm thương tiếc, ngài cũng tự nhủ đây là cái chào để ra đi, chàng tự nhủ sẽ trở về khi đạt được giác ngộ giải thoát.
Tin thái tử muốn xuất gia loan đi trong hoàng thành như một đám cháy, như một bệnh dịch nguy hiểm. Mọi người đều phập phòng, hồi hộp và lo sợ. Nàng Da Du Đà La đã sướt mướt trách chàng không thương tưởng vợ con. Hoàng Hậu Maha Ba Xà Ba Đề đã khuyên chàng nghĩ đến công ơn vua cha và để vận mệnh quốc gia trên hàng đầu. Nhưng một khi thái tử đã quyết chí thì không có gì ngăn cản chàng được nữa. Chàng không nói gì cả sau những lời trách móc, khuyên lơn. Chàng ra lệnh bày yến tiệc. Mọi người nghĩ rằng chàng muốn nhận chìm sự thất vọng không toại ý trong chum rượu, nên đã tích cực tham gia vào cuộc vui đêm. Hoàng cung như tưng bừng ngày tết đến, đàn ca rượu thịt ê hề. Quá nửa đêm mọi người đều say mèm, duy chỉ có tên giữ ngựa Sa Nặc là tỉnh táo vì đã được thái tử dặn trước, con ngựa Kiền Trắc cũng đã yên cương sẵn sàng. Trời chưa sáng tỏ chàng đã cùng Sa Nặc lên ngựa vượt thành đông.

 Tiếng vó ngựa nện đều trên đường đất giữa cảnh tịch mịch của đêm khuya, làm chàng nhớ lại hình ảnh đứa con thơ nằm ngủ vùi trong tay vợ. Hình ảnh này chàng ghi sâu vào tâm khảm và nguyện sẽ đem lại niềm vui vĩnh cửu cho con, đứa con yêu dấu của chàng. Cuối cùng chàng cũng đã ngoái đầu lại để nhìn hình ảnh cung thành Ca Tỳ La Vệ lần sau cuối, trước khi cho ngựa đi vào một khúc quanh của đoạn đường còn lại mà cũng là của cuộc đời chàng.

Ca Tỳ La Vệ
theo Dòng Lịch Sử.

 Ca Tỳ La Vệ là một di tích lịch sử quan trọng của Phật GiáoThái tử Sĩ Đạt Ta đã sống nơi đây một thời gian dài (theo nguyên thỉ 29 và theo Đại Thừa 19 năm). Không những chỉ thái tử mà còn những vị Phật trước cũng có vị đã thị hiện đản sanh và niết bàn ở vùng này. Thành Ca Tỳ La Vệ phải nói là đã đi vào sụp đổ ngay sau khi thái tử Tỳ Lưu Ly đánh phá và giết chết hầu hết dòng họ Thích Ca. Đây là một bi kịch cho chúng ta thấy rõ những cực đoan của xã hội Ấn Độ ngày xưa cũng như ngày nay.

 
 

 Tương truyền vào thời đức Phật vua dòng Ikshvaku tên Prasanjit (Ba Tư Nặc) vì muốn bang giao với dòng họ Thích nên đã cho người đến để cầu hôn. Ngược lại, dòng họ Thích lại cho rằng vua Ba Tư Nặc không phải thuộc dòng Sát Đế Lợi nên không muốn gã công chúa, nhưng vì khiếp phục nước Kosala là một cường quốc nên đã cho Vasbhaktiya, một thị nữ, cải trang làm công chúa về với vua Ba Tư NặcVua Ba Tư Nặc đã phong nàng làm hoàng hậu và không lâu sau đông cung thái tử Tỳ Lưu Ly được sanh ra. Khi Thái tử Tỳ Lưu Ly trưởng thành và muốn về thăm quê ngoại, bà Vasbhaktiya hết sức cản ngăn, nhưng chàng nhất định đi. Thái tử Tỳ Lưu Ly cũng được tiếp đón theo thể chế của một quốc khách và được cho ngụ tại sứ quán. Khi thái tử ra về thì sứ quán được rửa bằng sữa tươi. Một người hầu của thái tử vì bỏ quên đồ và trở lại sứ quán đã chứng kiến cảnh này về thuật lại cho thái tử. Chàng ta vô cùng tức giận và nguyền rằng không phải chỉ rửa sứ quán mà sẽ rửa cả Ca Tỳ La Vệ bằng máu.

Sau đó chàng đã âm mưu tướt ngôi vua nhân dịp nhà vua đi thăm đức Phật để nghe giảng pháp. Khi vua hay tin này đã phải chạy đi Ma Kiệt Đà để lánh nạn nhưng không may giữa đường thì băng hà. Thái tử Tỳ Lưu Ly đã ba lần mang quân đi đánh Ca Tỳ La Vệ nhưng hai lần đầu đều bị đức Phật ngăn cảnTruyền thuyết ghi lại rằng khi thái tử đem binh đi lần đầu đã gặp đức Phật ngồi giữa đường dưới một tàng cây khô. Thái tử ngạc nhiên hỏi tại sao thế tôn lại ngồi dưới một tàng cây không có bóng. Đức Phật nói rằng: © bệ hạ, cái bóng mát của giai cấp vô cùng thoải mái.’ Nghe xong câu nói đầy ý nghĩa này chàng đã lui binh. Trong lần thứ ba thì chàng đã thành côngThành Ca Tỳ La Vệ đã rửa bằng máu của dòng họ Thích, chỉ một số ít là thoát chạy đi đến vùng Kathmandu. Ngài Huyền Trang ghi rằng số tử vong lên đến 9990, cho đến đứa trẻ sơ sinh cũng không thoát khỏi lưỡi gươm quái ác kia.
Từ đó Ca Tỳ La Vệ đã trở thành một nơi hoang dãdầu vậy vẫn có một số người vì cảmnhớ ân giáo dưỡng của đức Phật mà đã đến đó xây những đền kỷ niệm. Tuy nhiên không một di tích lịch sử liên quan đến cuộc đời của đức Phật nào hoang tàn như nơi đây. Có lẽ phải vài mươi năm nữa, Ca Tỳ La Vệ mới trở thành một trung tâm chiêm báiDầu vậy, những học giả chiêmbái thời xưa đã không ngại gian lao tìm đến nơi này và giữ lại những kỷ niệm qua nét bút nên chúng ta mới có cơ hội tìm về vết xưa và xin hãy đứng yên nơi đây cho dòng tư tưởng dõi theo những ký sự xa xưa.
Khi ngài Pháp Hiển đến Ca Tỳ La Vệ thì nơi đây có: “Những ngọn núi đầy tuyết trắng của dãy Hi Mã Lạp Sơn nhìn xuống Ca Tỳ La Vệ, một thành phố nằm dọc theo bờ dòng sông. Những bức tường đổ nát bằng gạch được bao bọc bởi một hào thành. Những bức tường của cung thành thì lớn hơn và biểu hiện một trung tâm văn hoá cao. Ngài đã đến Ca Tỳ La Vệ, một nơi không có vua và không có cả thần dân. Ranh giới của thành phố được nhận biết qua những bờ thành mục nát. Một vài tăng sĩ và một số tín đồ đang ở đây. Đây là nơi mà thái tử Tất Đạt Đa đã mục kích một người già, và đây là cửa thành đông, nơi thái tử đã ra đi bỏ lại sau lưng những dục lạc dương trần. Đây là nơi mà ngài A Tư Đà thiền định. Nơi mà Đề Bà Đạt Đa đã giết chết con voi. Đây là nơi mà mũi tên của thái tử đã ghim xuống sau đoạn đường bay trên 30 lý (4,8 dặm) và nơi đây đã phun lên một vòi nước, cũng là nơi mà 500 người họ Thích quy y theo Phật giáo. Những nơi như đất rung động sáu lần, nơi đức Phật đã gặp vua cha sau khi giác ngộ, nơi đức Phật giảng pháp cho chư thiên, nơi trời Đế Thích Indra đã đứng hầu Phật và nơi mà Tỳ Lưu Ly sát hại dòng họ Thích, tất cả những nơi này đều được các tín đồ Phật Giáo xây đền kỷ niệm.Ϡ

 Tây Du Ký của ngài Huyền Trang ghi chép tận tường hơn: “Nước này có một chu vi khoảng hơn 4000 lý. Trong đó có trên 10 thành phố đều hoang phế và điêu tàn tột độ. Thủ đô cũng bị đất lấp và đổ nát. Cấm cung nằm trong thủ đô và có chu vi khoảng 14, 15 lý. Hoàng cung được xây dựng bằng gạch đỏ. Những nền tường vẫn còn cứng cáp và cao. Nơi nầy có lẽ đã bị bỏ phế từ lâu. Những làng mạc có dân cư rất là ít và tiêu điều.

 Nơi đây không có ai trị vì cả; mỗi một phố có một người trưởng phố riêng. Đất đai rất là mầu mỡ và được khai thác theo từng mùa. Người dân ở đây rất là hiền và ngoan ngoãn. Có lẽ có trên 1000 tăng xá bị bỏ hoang. Gần nơi cung thành vẫn còn một tăng xá có khoảng 3000 phật tử đang tu học theo truyền thống tiểu thừa.
Ở đây cũng có một số đền thờ Đế Thích và được cúng tế (đồ thịt sống). Bên trong hoàng thành còn những tường nhà đổ nát. Có lẽ đây là cấm cung của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) vì một ngôi đền với hình ảnh nhà vua đã được dựng lên nơi đây. Không xa mấy là tàn tích của nơi mà hoàng hậu Ma Ya cư ngụ. Trên nền đã cũ người ta đã xây một ngôi đền có hình hoàng hậu.

Bên hông ngôi đền này là nơi bồ tát đã thị hiện vào trong thai của hoàng hậu. Cảnh này cũng được vẽ lại bên hông tường của ngôi đền. Theo truyền thống Mahasthavira thì bồ tát đã hạ thai vào đêm 30 của tháng Uttarashadha - tương đương với ngày 15 tháng 5 theo lịch của ta [Trung Quốc]. Những trường phái khác thì ghi rằng sự kiện đã xảy ra vào ngày 23 cùng tháng - tương đương với mùng tám lịch ta.
Phía đông bắc của hoàng cung là một ngôi tháp, kỷ niệm nơi nhà tiên tri A Tư Đà đã chiêm đoán cho thái tử. Vào ngày thái tử hạ sanh có những điềm lành đã xảy ra. Vua Tịnh Phạn đã cho gọi tất cả các chiêm tinh gia lỗi lạc và phán rằng: ‘Hãy tôn trọng đứa bé này, những điềm gì tốt và những điềm gì xấu? Các ngươi hãy trả lời ta thật rõ ràng“. Họ đều đáp: ‘Theo dự đoán của chúng thần thì có rất nhiều điều vô cùng đặc biệt. Nếu thái tử sống ở đời thế tục người sẽ trở thành một bậc chuyển luân thánh vương; nếu người xuất gia sẽ trở thành một vị Phật’.
Khi đó A Tư Đà cũng từ xa đến, đứng trước cổng thành xin vào gặp mặt nhà vua. Nhà vua vô cùng mừng rỡ đã thân hành ra rước và lễ ngài sau đó đã thỉnh ngài ngồi vào một ghế đặc biệt rồi nói: ‘Trẫm nghĩ rằng một đại thần tăng như ngài không phải đến đây không có nguyên do’. Tiên ông đáp: ‘Tơi đang nghỉ (hay đang ngủ qua mùa hè) trong cung thành của Đế Thích, bỗng nhiên thấy vô số chư thiên đang nhảy múa vui mừng. Tôi đã hỏi tại sao họ lại vui mừng như chưa từng có thế này, khi đó họ đáp: hỡi tiên ông ngài hãy biết ngày hôm nay nơi cõi Nam Diêm Phù Đề hoàng hậu Maya đã sanh cho vua Tịnh Phạn dòng họ Thích một thái tử, người sẽ đạt được giác ngộ giải thoát hoàn toàn, sẽ trở thành một vị toàn giác. Khi nghe đều đó tôi liền đến để chiêm ngưỡng thái tửÔ hô, tuổi tôi đã quá già để chờ đợi xem quả vị thiêng liêng.“

 Nơi cổng nam của hoàng thành cũng có một tháp, nơi đánh dấu thái tử sau cuộc thi với các hoàng tử dòng họ thích đã ném con voi đi xa. Thái tử đã thi đấu với các hoàng gia nơi công cộng và đã bỏ xa tất cả trong mọi lãnh vực. Đại đế Tịnh Phạn đã chúc mừng ngài liền trở về cung thành.
Khi đó một tên nài đang cho con voi chuẩn bị rời khỏi cung thành. Đề Bà Đạt Đa lúc nào cũng tự kiêu về sức khoẻ của chàng, đang bước vào cổng thành và hỏi tên nài voi: ‘Ai sẽ cỡi con voi được trang hoàng lộng lẫy như thế này’. Tên nài đáp: ‘Thái tử sắp trở về, và thần đang trên đường đi đón ngài’. Đề Bà Đạt Đa trong lòng ghen tức đã kéo con voi xuống đập vào đầu nó và đá vào bụng nó, sau đó thì bỏ con voi giữa đường không cho ai đi qua được. Bởi vì không ai có thể di chuyển con voi nên số người bị kẹt lúc càng đông. Khi đó Nan Đà cũng đến và hỏi: ‘Ai đã giết con voi?’ họ đáp: ‘chính Đề Bà Đạt Đa’. Nan Đà đã hất con voi qua một bên đường. Sau đó thì thái tử cũng đến và hỏi: ‘Ai đã nhẫn tâm mà giết con voi như thế này?’. Mọi người đáp: ‘Đề Bà Đạt Đa đã giết và dùng nó để lấp đường, sau đó thì Nan Đà đã hất nó sang bên để dọn đường’. Thái tử khi đó liền nhấc bổng con voi lên và quăng nó ra khỏi bờ thành. Nơi con voi rơi xuống trủng thành một hố sâu và rộng. Từ đó người ta quen gọi nơi đó là hố voi rơi.
Bên hông nơi này là một ngôi đền có tượng của thái tử. Kế bên ngôi đền này lại là một ngôi đền, nơi hoàng phi và thái tôn ngủ. Trong đó có hình của hoàng phi Da Du Đà La và thái tôn La Hầu La. Bên hông ngôi đền này lại là ngôi đền có hình chú bé đang học. Nó đánh dấu nền đá cũ của thái miếu, nơi các vị hoàng tử học tập.
Phía đông nam của kinh thành là một ngôi đền thờ tượng thái tử đang cỡi trên một con tuấn mã trắng. Đây là nơi thái tử đã rời cung thành. Bên ngoài mỗi cổng thành đều có một ngôi đền, mỗi ngôi đền đều có tượng của một lão già, một người bệnh, một người chết và một sa môn. Đó chính là những nơi mà thái tử trên đường du ngoạn đã mục kích các cảnh lão bệnh tử và sa môn. Khi đó thái tử mất cả những nhả hứng của chuyến đi và quyết định quay về trong niềm suy tư đầy đạo vị.

 Phía đông bắc cách cung thành khoảng 40 lý có một ngôi tháp đánh dấu sự kiện thái tử trong một ngày lễ hạ điền, đã ngồi dưới gốc cây và đạt được sơ thiền. Nhà vua đã chứng kiến cảnh thái tử ngồi trầm lặng dưới gốc cây trong khi ánh dương quang chiếu rọi chung quanh ngài, trong khi bóng cây hoàn toàn không xê dịch. Nhà vua vô cùng lo lắng khi nhận ra thái tử có một đời sống nội tâm cao.
Phía đông nam của cung thành có trăm ngàn ngọn tháp, đáh dấu nơi dòng họ Thích bị sát hại. Vua Tỳ Lưu Ly đã đánh chiếm và bắt tất cả dòng họ Thích 9990 người sau đó ra lệnh xử chém tất cả. Thây họ chất thành đống như rơm và máu họ chảy thành hồ. Các vị Đế Thích đã kích động lòng người để họ thu thập xương tàn mà đem chôn.

Phía tây nam của nơi dòng họ Thích bị tàn sát có bốn ngôi tháp nhỏ. Đây là nơi bốn người dòng họ Thích đã chống lại một quân đội. Ban đầu khi vua Ba Tư Nặc (cha của Tỳ Lưu Ly) gởi một sứ thần sang để tìm bang giao với dòng họ Thích qua một cuộc hôn nhânDòng họ Thích cho rằng nhà vua không phải thuộc người trong tộc nên đã gã cho nhà vua một đứa con của người thị nữ và kèm theo của hồi môn rộng rãiVua Ba Tư Nặc đã phong bà làm hoàng hậu và phong con bà Tỳ Lưu Ly làm thái tử. Khi lớn lên thái tử Tỳ Lưu Ly muốn về thăm cậu để học hỏi với các hoàng tử họ Thích. Khi đến phía nam của hoàng thành chàng thấy một giảng đường mới nên cho xe dừng lại. Những người dòng họ Thích biết thế nên đã đuổi chàng: ‘Vô lễ kẻ hạ tiện kia! dám choáng chỗ của người dòng họ Thích, nơi để đón rước đức Phật’
Sau khi lên ngôi Tỳ Lưu Ly quyết định trả thù. Ngài đã triệu tập quân lính và chiếm đóng nơi này. Bốn người dòng họ Thích đang tát nước dưới ruộng đã đứng ra chống lại quân đội và đánh đuổi không cho họ xâm nhập hoàng thành. Những người trong tộc nghĩ rằng họ là dòng dõi của những vị vua và không thể chấp nhận một hậu duệ của dòng vua có thể hành động thô lỗ dã man như giết hại một cách không nhân nhượng nên đã đuổi bốn người kia đi và cho rằng họ đã làm nhơ danh của dòng tộc.
Bốn người kia đã đi về phía bắc, nơi có những ngọn núi tuyết và trở thành bốn vị vua của Bamya, Udyana, Himatala và Sambi [Kosambi?]. Dòng dõi của họ đã được truyền nối không gián đoạn.

Phiá nam của thủ đô khoảng 3 hay 4 lý là một vườn cây Ni Câu Đà (Nyagrodha) [?] nơi thế tôn sau khi thành đạo đã hội ngộ với vua cha và giảng dạy giáo pháp. Vua Tịnh Phạn hay tin thái tử đã chiến thắng ma quân và du hành khắp mọi nơi để truyền trao giáo pháp của mình, bỗng nhiên cảm thấy nhớ ngài và muốn gặp lại thái tử cũng như tỏ bày lòng tôn kính. Nhà vua đã gởi một sứ thần đến gặp Như Lai với lời nhắn: ‘Trước kia người đã hứa, khi đắc đạo giải thoát sẽ trở về quê nhà. Những lời hứa kia đến nay vẫn chưa được thực hiện; bây giờ chính là lúc người hạ giá đến thăm ta.’ Sứ thần đã đến gặp Phật và chuyển lại lời của vua. Như Lai đáp: ‘trong vòng bảy ngày ta sẽ về lại quê’. Sứ giả quay về và thông báo cho nhà vua. Vua Tịnh Phạn đã ra lệnh rãi nước, quét dọn, rãi dầu thơm và trang hoàng đường xá bằng những loại bông hoa. Đến ngày nhà vua đã cùng đoàn tuỳ tùng ra khỏi hoàng cung 40 lý xuống xe và đợi tăng đoàn. Khi Như Lai đến thì có tám Kim Cang Thủ bồ tát đi kèm, bốn bị thiên vương đi trước, những vị đế thích và trời cõi dục giới đi phiá bên trái, những vua trời phạm thiên và đế thích cõi sắc giới đi phiá bên phải. Những vị tỳ kheo đi phiá sau thế tôn. Trong đoàn tuỳ tùng, đức Phật xuất hiện như mặt trăng sáng giữa muôn sao. Trí tuệ của ngài làm rung chuyển tam giớihào quang của ngài làm mờ cả ánh sáng của bảy hành tinh [trời, trăng và năm hành tinh]. Ngài đã trở về sinh quán của mình trong ánh hào quang như thế. Sau khi nhà vua và các quan ra mắt ngài họ đều trở về hoàng cung, họ đã nghỉ lại tại vườn cây Ni Câu Đà (Nyagrodha).
Không xa bên hông của tăng xá là một ngôi tháp kỷ niệm nơi đức Phật khi ngồi dưới gốc cây lớn hướng mặt về phương đông đã nhận một tấm y bằng chỉ kim tuyến của dì và cũng là nhũ mẫu của ngài dâng cúng. Không xa nơi đó là một tháp khác đánh dấu nơi đức Phật cảm hóa tám vị vương tử cùng năm trăm người họ Thích.
Bên trong cổng thành đông phía bên trái của đường cũng có một ngôi tháp, nơi thái tử Sĩ Đạt Ta đã chơi các cuộc thể thao.

Bên ngoài thành là một ngôi đền thờ Đế Thích Isvara. Trong đền có một bức tượng đế thích trong tư thế đang khởi người dậy từ trạng thái quỳ. Đây là ngôi đền mà khi thái tử còn sơ sanh đã vào. Vua Tịnh Phạn sau khi đi đến vườn Lâm Tỳ Ni để gặp thái tử trở về, khi đi ngang qua ngôi đền nhà vua đã nói: ‘Ngôi đền này nổi tiếng là linh thiêng. Những đứa trẻ dòng họ Thích đều cầu sự gia hộ của thần đền và cúng dường những gì thần yêu cầuChúng ta phải đem thái tử đến đây để cúng bái.’ Khi đó người vú bồng thái tử vào đền, bỗng nhiên bức tượng đứng dậy và chào thái tử. Khi thái tử đi khỏi thì bức tượng trở về nguyên vị.
Bên ngoài cửa thành nam phía bên trái đường là một ngôi tháp đánh dấu nơi thái tử đã cùng các hoàng tử tranh tài và mũi tên của ngài đã chẻ đôi cái đích bằng sắt.
Từ nơi tháp này đi về phía đông nam 30 lý có một ngôi tháp khác. Nơi đây có một vòi nước, nước nơi đó trong như mặt gương. Đây chính là nơi mũi tên của thái tử sau khi chẻ đôi cái đích đã ghim sâu xuống, từ đó một vòi nước đã chảy ra. Thông thường người dân ở đây gọi đó là tiễn tỉnh (Sarakupa). Những người bệnh phần đông nhờ uống nước này mà được khỏi. Một số người đã đến từ phương xa để lấy một chút bùn nơi đây mà đắp lên chỗ đau của họ cũng đều lành lặn.

Dĩ nhiên từ ngày ngài Huyền Trang chiêm bái Ca Tỳ La Vệ đến nay đã trải qua bao nhiêu thế kỹ, bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời đã xảy ra. Hai thế chiến lớn đã nối tiếp nhau khai mở và kết thúc, biết bao tang tóc và đau thương đã chất chồng trên chuỗi ngày khắt khoải. Ca Tỳ La Vệ cũng không nằm ngoài định luật đào thảy vô tình của thiên nhiên. Ngày nay nếu chúng ta đến đó thì chỉ có những bụi cỏ hoang dại và những hàng cây không thành hàng, bởi không người chăm sóc, chào đón chúng ta. Những ngôi tháp mà ngài Huyền Trang đã miêu tả chỉ còn là hình ảnh của ngàn xưa, giống như ta đọc truyện của Kim Dung rồi đi sang Trung Quốc để tìm vẻ đẹp của Tô Hằng nhị châu mà ông ta đã diễn tả là tiên cảnh ở nhân gian. Ngay cả khi phái đoàn của ngài Minh Châu sang chiêm bái hơn 20 năm về trước, nơi đây cũng chẳng còn gì, ngoài những “đồi rất cao có thể là đền đài ngày xưaHiện tại toàn vùng bị cây cối mọc bao trùm. Chúng tôi chỉ thấy xa xa một khu rừng rậm rạp. Đến gần nhìn thấy nhiều gạch đá vụn, có lẽ đây là một khu nhà rộng lớn của thành.

Những Di Tích.
Ca Tỳ La Vệ
Dĩ nhiên di tích đầu tiên chính là Ca Tỳ La Vệ. Ngày nay chúng ta đến đây có thể nhìn lại một góc tường của thành tây và một hàng gạch với tấm bảng ghi rằng: đây là cửa thành đông nơi thái tử đã thoát ra khỏi kinh thành để tìm đường xuất giaNgoài ra những nhà sử khảo cổ học vẫn còn chưa nhất trí với nhau về địa thế của Ca Tỳ La Vệ. Hiện nay có hai nơi được nghi ngờ là Ca Tỳ La Vệ, thứ nhất nằm tại Nepal cách Lâm Tỳ Ni 27 km về phía tây và Taulihawa 4,8 Km về phía tây bắc (đây là Ca Tỳ La Vệ mà tôi đã viếng thăm và ngay cả ngài Minh Châu và phái đoàn cũng đã đến). Ngoài ra còn một địa thế tên là Piprahwa thuộc vùng Basti của tiểu bang Uttar Pradesh, cách nhà ga Naugarh trên chuyến đường Gorakpur Gonda 25 km và cũng cách Ca Tỳ La Vệ tại Nepal 25 Km nhưng không có gì để có thể khẳng định nơi nào là đúng cả. 

Niglihawa.
(Nơi kỷ niệm Câu Na Hàm Mâu Ni Phật): cách Ca Tỳ La Vệ khoảng 6 hay 7 km về hướng bắc. Nơi làng này có một hồ nước vây phủ bởi những bụi cây. Bên hồ nước người ta đã tìm thấy hai phần trụ đá của A Dục vương vào năm 1895. Phần trên của trụ dài hơn khoảng 4m5 và phẳng, đã được tìm thấy nằm trong lòng đất. Trên nó có hình hai con công và hàng chữ của ngài Ripu Malla. Những dòng chữ trên phần trên của trụ gồm hai phần một là câu ‘Om Mani Padme Hum’ (Án Ma Ni Bát Di Hồng) của Đại Thừa giáo và hai là ‘Shri Ripu Malla, người đã chiến thắng từ lâu, 1234 (thời đại Saka = 1312 tl). Phần dưới của trụ 1m52 ghim sâu dưới đất và nghiên về phiá tây. Phần này lú khỏi mặt đất khoảng 0m76 và mang hàng chữ:
1. “Đức vua Priyadarsin vào năm trị vì thứ 14 đã tu bồi lần thứ hai tháp thờ Phật Câu Na Hàm Mâu Ni và vào năm trị vì thứ 20 đã thân hành đến đây để dựng trụ đá kỷ niệm và lễ bái. (do V.Smith dịch)
2. “Vua Priyadarsin vào năm trị vì thứ 14 đã tu sửa tháp thờ Phật Câu Na Hàm Mâu Ni lớn gấp đôi nguyên khổ và đã đến để lễ bái vào năm trị vì thứ 20. (do E.J. Thomas dịch)

 Làng Niglihawa được công nhận trong quá khứ là xóm dưới của tỉnh Shobawati, nơi Phật Câu Na Hàm Mâu Ni hạ sanh. Tương truyền thân Phật cao 9m1 và tuổi thọ ngài đến 30 ngàn năm. Câu Na Hàm Mâu Ni là vị Phật thứ 23 trong cõi Nam Diêm Phù Đề.
Mặc dầu vậy vẫn có những sự chênh lệch trong vấn đề phân định chỗ kỷ niệm của ngài. Trong khi nơi này nằm khoảng 8 dặm về phía tây của Ca Tỳ La Vệ thì ngài Pháp Hiển ghi nhận rằng nơi Phật Câu Na Hàm Mâu Ni hạ sanh nằm cách Ca Tỳ La Vệ về phía nam không quá 8 dặm và ngài Huyền Trang lại cho là nơi đó phải nằm về phía đông bắc của nơi Phật Câu Lưu Tôn hạ sanh khoảng 30 lýẠ.
Trong ký sự của ngài Pháp Hiển không nhắc gì đến một trụ đá, trong khi ngài Huyền Trang ghi nhận có trụ đá đầu sư tửNgoài ra người ta còn phát hiện nơi đây nền đá của ngôi tháp xưa. Chính trụ đá vua A Dục nơi đây đã xác nhận vị trí đản sanh của Phật Câu Na Hàm Mâu Ni và gián tiếp giúp việc xác định vị thế của Ca Tỳ La Vệ.

Gotihawa. 
(nơi đản sanh Phật Câu Lưu Tôn): Đi từ Ca Tỳ La Vệ về phía tây nam khoảng 4 km là làng Gotihawa, Phật Câu Lưu Tôn đã thị hiện nơi đây. Vị Phật thứ tư trong hàng bảy vị Phật quá khứ. Ngay trung tâm làng là trụ đá vua A Dục. Không may phần trên của trụ đã bị gãy đổ và không tìm ra được. Phần còn lại cao khoảng 3m04, đường chu vi khoảng 2m6. Cây trụ được dựng nên để kính mừng sự ra đời của đức Phật nhưng ngày nay nó đã đánh mất vẻ hào nhoáng của thời xa xưa. Cũng chính nơi này người ta tin rằng đức Phật Thích Ca sau khi giác ngộ đã trở lại và gặp vua cha. Cây trụ này được nhà khảo cổ Carllyle phát hiện vào năm 1904.
Gần trụ đá về phía nam có một cái bể (bồn) dưới đáy bể lại có một căn hầm kỳ lạ được đậy bằng một thớt gỗ. Tương truyền rằng vị thủ tướng tiền nhiệm của Nepal đã tìm đến để khám phá sự bí mật nhưng rốt cuộc đành phải lấp lại như cũ.
Bên phiá tây của bể cũng còn một số tàn tích của một ngôi đền. Nhưng đến nay những nhà khảo cổ cũng chưa tìm ra dấu tích của ngôi tháp mà vua A Dục đã dựng nên như trong du ký ngài Huyền Trang có ghi chép. Năm 1898 Waddell và Mukerjee có đào bới được một số nền đá và nghi rằng đấy chính là di tích của ngôi tháp, nhưng không thể nào xác định chính xác, vì chung quanh Ca Tỳ La Vệ có vô số tháp như ngài Huyền Trang đã miêu tả.

Kudan.
(Nơi Đức Phật gặp vua Tịnh Phạn - Vườn cây Nigrodharna): Cách Tulihawa khoảng 1km về hướng tây nam là làng Kudan. Nơi đây ông P.C.Mukherjee đã khai quật được nền móng của những bức tường và một số bể nước. Ông ta cho rằng đây chính là di tích của vườn Nigrodharna nơi vua Tịnh Phạn gặp đức Phật. Nhưng di tích này cũng có thể là phần còn lại của ngôi tháp kỷ niệmnơi bà dì ngài đã dâng chiếc y kim tuyến. Nhưng không có một yếu tố tiêu biểu nào để xác định rõ ý nghĩa của từng nơi cả. Debal Mitra đã tiếp nối việc đào bới nơi này và đã phát hiện ra một ngôi đền bằng gạch nung vào thế kỷ thứ 8. Những viên gạch này đều mang nhiều hoa văn đẹp tuyệt vời. Ngoài ra Kudan vẫn được nghi là nơi đản sanh của Phật Câu Lưu Tôn. Mukherje đã y cứ vào tài liệu của hai nhà chiêm bái Pháp Hiển và Huyền Trang để khẳng định rằng nơi đản sanh của Phật Câu Lưu Tôn phải nằm tại Pipari cách Taulihawa 4km8 về hướng tây nam.

Ngoài ra còn có truyền thuyết cho rằng Kudan chính là nơi nghị viện của vua Tịnh Phạn và nơi đây đã từng có tượng của đức Phật nhưng về sau lại bị Adi-Shankaracharya thay thế vào đó bằng một biểu tượng Linga (một hình ảnh dương vật tượng trưng cho thần Shiva). Dân làng bảo rằng có những khai quật đã được thực hiện nhưng rất khó mà đem các di tích lên và sau đó đã bị cát lấp trở lạiDầu vậy người ta vẫn tin chắc rằng đã tìm ra ngọn của một ngôi tháp hay của một trụ đá.

Sagarhawa. 
(Nơi dòng họ Thích bị tàn sát): Từ Taulihawa đi về phiá bắc 5km chúng ta sẽ đến một khu rừng, nằm giữa khu rừng là một cái bể hình chữ nhật dài có tên là Lambu Sagar. Di tích này đã được nhà khảo cổ người Đức tiến sĩ Fóhrer phát hiện, khi ông ta được giao phó cho việc phụ tá thiếu úy Bir Jung người Nepal phụ trách về việc khai quật, vào năm 1898.

 Nơi này được ghi nhận là nơi thái tử Tỳ Lưu Ly, vua của nước Kosala, đã tàn sát dòng họ Thích. Nơi đây còn có 17 ngọn tháp cổ và một di tích dài. Những tảng đá mang hình hoa sen nở và các vũ khí thời xa xưa cũng được tìm thấy nơi đây. Căn cứ vào đây ông V.Smith và nhiều học giả khác cho rằng nơi đây có thể có ngôi tháp kỷ niệm cuộc chiến tranh hay ít ra kỷ niệm những người đã hy sinh trong trận chiến. Bên dưới những tảng đá họ còn phát hiện ra những hòm chứa đồ cổ quý giá. Trong một rương bằng đất nung phát hiện trong một ngôi tháp còn có xương xá lợi, một tượng rắn bằng vàng và bạc, đá quý và đồ trang sức, một ít hột gạo, v.v. Người ta tin rằng đó là xương của ngưòi dòng họ Thích bị Tỳ Lưu Ly giết.

Baradhawa.
(giếng tên rơi - tiễn tĩnh): Cách Taulihawa 6km4 về hướng tây nam là làng Baradhawa, nơi đã được phát hiện một số di tích cổ xưa. Người ta tin rằng nơi đây có ngôi tháp chứa xá lợi của chính đức Phật. Không xa nơi này là một bể nước được xác định là nơi mũi tên của thái tử Sĩ Đạt Ta đã ghim xuống trong cuộc thi tài ngày xưa. Nhưng dĩ nhiên có nhiều điểm đáng nghi ngờ về vị trí này, bởi vì trong ký sự của hai ngài Pháp Hiển và Huyền Trang có những sai biệt nên rất khó mà xác định cho đúng.

 Ngoài ra còn có một số làng quanh vùng được phát hiện có di tích lịch sử như làng Hardewa cách Taulihawa 5km về phiá nam, làng Bikuli cách Taulihawa 12km8 về phiá đông bắc, làng Chatradei cách Taulihawa 4km8 về phiá tây bắc, làng Araurakot cách Ca Tỳ La Vệ 9km về phiá đông bắc,v.v. nhưng những nơi này đều không được xác định một cách chắc chắn về ý nghĩa của chúng. Có thể đây là mục tiêu cho những nhà thích nghiên cứu tìm hiểu tận tường và có đầu óc quan sát tỉ mỉ, nhưng hoàn toàn không thích hợp cho những phái đoàn chiêm bái.

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

Bồ Đề Đạo Tràng [Bodh-Gaya]

Ấn Độ huyền bí, linh thiêng và nổi bậc hẳn trên các quốc gia khác trong lãnh vực phát triển tâm linh và triết lý. Các thánh nhân đã thay nhau ra đời tại đây, những triết gia lỗi lạc đã từng một thời sanh ra, lớn lên, sáng tác và ra đi tại đây. Nhưng có lẽ nếu không có hiện tượng đã xảy ra trên 2500 năm về trước tại Bồ Đề Đạo Tràng thì số người biết đến Ấn Độ ít hơn hiện tại rất nhiều. Thế giới sẽ không biết gì đến một Long Thọ bồ tát siêu tuyệt với những bản luận vượt xa những triết lý quá trừu tượng của các triết gia khác. Một Vô Trước và một Thế Thân để tuyên dương Duy Thức học cũng làm sao được biết đến thì còn nói chi đến tổ Bồ Đề Đạt Ma, Nhựt Liên thánh tăngbồ tát Thích Quảng Đức, Dalai Lama hay bất cứ một nhân vật Phật Giáo nào nổi danh trên thế giới ngày nay. Và cả cái tên Bồ Đề Đạo Tràng cũng sẽ không hiện hữu chứ đừng nói chi là được ghi lại trên những trang giấy, truyền trao trong những lời nói.

Mục tiêu đầu tiên của người phật tử đến Ấn Độ có lẽ chính là Bồ Đề Đạo Tràng, có những phật tửtu sĩ và không phật tử đã chỉ đến Bồ Đề Đạo Tràng rồi tâm tánh bỗng nhiên biến đổi, bao nhiêu thiện tâm bỗng bừng dậy và họ trở thành những nhà từ thiện tâm linh và xã hội một cách thiết thực. Trong đạo phật không có sự bắt buộc phải viếng thăm các thánh tích Phật Giáo như truyền thống của Hồi Giáotrong đời phải một lần đến Mekka. Đức Phật vì lòng từ đã bày phương tiện cho hàng đệ tử có thể tạo thêm công đức, thêm chất liệu để phấn chấn hơn trên con đường mà thời gian để đi phải trải qua ba a tăng ký kiếp (hàng ngàn thế kỷ); ngài đã dạy là phật tử nếu đến được các nơi thánh tích thì phước đức sẽ tăng trưởng rất nhiều. Tại sao vậy? Phật Giáo là một tôn giáo của tỉnh thức, của thực tại và thực tiễn, có thể nói khoa học hơn cả nền khoa học văn minh ngày nay vì khoa học của Phật Giáo không phải bị suy đi sét lại bởi ảnh hưởng tàn hại môi sinh của chính nó, như những phát minh thời đại đã làm ra. Thế thì làm gì có chuyện huyễn hoặc chỉ đến thăm một vùng đất lại có thêm phước báo? Trong kinh đức Phật đã dạy chính niềm tin là mẹ đẻ mọi công đứcvì vậy khi đến được thánh tích thì phước báo chúng ta tăng bởi niềm tin chúng ta tăng. Niềm tin được tăng trưởng bởi hai nguyên do: thứ nhất các thánh tích cho ta một chứng minh xác thực về hiện hữu của một thái tử Sĩ Đạt Ta đã hiện thân nơi Ấn Độ và từ một con người ngài đã phát triển và chuyển hoá thành một bậc giác ngộ, một vị Phật; thứ nhì những thánh tích đều mang một từ trường mạnh có ảnh hưởng lớn đến vấn đề phát triển tâm linh đó là nơi chư Phật đều thay nhau xuất thế, ví dụ như chung quanh vùng Ca Tỳ La Vệ chúng ta đã thấy có những nơi kỷ niệm của Phật Câu Lưu Tôn và Phật Câu Na Hàm Mâu NiBồ Đề Đạo Tràng lại đặc biệt hơn cả, vì nơi đây là nơi mà ánh sáng trí tuệ của chư Phật bắt đầu bừng dậy và từ đó ánh hào quang các ngài đã toả đi đến muôn phương. chỉ bốn chữ “Bồ Đề Đạo Tràng“ cũng đủ để sưởi ấm tín tâm của hàng phật tử chứ đừng nói chi đến việc được viếng thăm nơi đây.
Tôi cũng đã đến Bồ Đề Đạo Tràng trong một niềm háo hức vô biên. Nhưng lần đầu đến Bồ Đề Đạo Tràng là một kinh nghiệm khó quên. Đặt chân đến Ấn Độ hơn hai tuần rồi mà lòng tôi lúc nào cũng nôn đến Bồ Đề Đạo Tràngmặc dầu, tôi đã giao phó cho thầy Hạnh Nguyện sắp xếp tuyến đường. Dĩ nhiên những động đá Phật Giáo ở Trung Ấn cũng đã làm cho tôi say mê, những tu viện Tây Tạng tại nam và bắc Ấn cũng gieo vào tôi nhiều ấn tượng đẹp. Nhưng tâm trạng của tôi vẫn là tâm trạng của một người về thăm quê ngoại (hay quê nội) đã đến được đầu làng rồi nhưng vẫn còn phải ‘bị’ đi vòng vòng để xem những hàng cây xanh, những rặng tre già đong đưa theo gió. Phong cảnh tuy hữu tình, nhưng làm sao hấp dẫn bằng căn nhà của ngoại (hay nội) mặc dầu nó chỉ là một căn nhà lá lụp xụp đi chăng nữa. Nhưng ở đây đâu phải vậy, Bồ Đề Đạo Tràng nào phải là một căn nhà lá lụp xụp mà là cả một gia sản khổng lồ, một thắng tích mà cả những người “mắt xanh mũi lỏ“ cũng hăm hở tìm về chớ không riêng gì những người con Phật.

Chiếc xe buýt công cộng tuy gọi là Super Delux (tối sang trọng) vẫn không làm sao so sánh được với những phương tiện sang trọng của Âu Mỹ nhưng tôi cảm thấy nó rất dễ thương và đáng mến, có lẽ vì nó chở tôi đến gặp hình bóng của người cha tinh thần chăng? Sau khi đi thăm đồi Sanchi đẹp thơ mộng, chúng tôi đã lấy xe buýt để đi Patna và từ Patna đi Gaya, một thị trấn nhỏ cách Bồ Đề Đạo Tràng hơn 10 km. Chuyến xe Patna khởi hành lúc bốn giờ chiều. Chúng tôi đã đến Patna lúc hai giờ sau khi tìm quán ăn chúng tôi lại phải tìm xe để đi. Vì không rành Patna chúng tôi phải nhờ đến một anh hướng dẫn người Ấn Độ, sau khi bằng lòng giá cả về tiền công giới thiệu của anh ta, chúng tôi đã đến một trạm xe buýt tư nhân với những chiếc xe Video Coach-Super Deluxe (xe tối sang trọng có máy video). Nhưng điều kiện đầu tiên mà chúng tôi thoả thuận khi chúng tôi nhìn thấy chiếc xe là không được bật cả nhạc lẫn phim ảnh Ấn Độ, thật là một cực hình khi chúng ta phải đi trên một chiếc xe vừa dằn vừa bụi mà tai lại bị tra tấn bởi những âm thanh cao vút và ầm ỉ của nhạc Ấn Độ, nếu thị hiếu của chúng ta không phải tình cờ nằm trong tầng số đó. Chủ xe bằng lòng, chúng tôi mua hai vé trực tiếp với anh tài và chỉ trả đúng số tiền cò mồi cho anh Ấn dẫn đường, làm anh ta tiu ngiủ, vì anh ta nghĩ rằng sẽ ăn thêm của chúng tôi một số tiền nữa khi chúng tôi nhờ anh ta mua giùm vé như một số người Đài Loan hay Nhựt thường làm. Có lẽ hai dân tộc này có những người lúc nào cũng sẵn sàng đưa cổ cho Ấn Độ chém, nên điều đầu tiên mà họ thường hỏi có phải là Japanese hay không, nếu không thì có phải là Taiwan? Nhưng ngày nay tại Bồ Đề Đạo Tràng thì sự hiện hữu của những người Việt Nam không còn lạ nữa và cũng là những con mồi hấp dẫn. Người Việt Nam tuy không nhẹ dạ nhưng đôi khi vì sống ở Âu Mỹ lâu ngày nên quên đi nghệ thuật mặc cả chăng? Cũng may, thầy Hạnh Nguyện đã sống tại Ấn Độ gần năm (và dĩ nhiên cũng vẫn bị lừa dài dài) còn tôi thì nổi tiếng trùm sò cả nước đều biết, nên chúng tôi không dễ gì sa vào những cái bẩy lúc nào cũng được giương sẵn chờ đón những con mồi Tourist (du khách) béo bở.

 Trời từ từ sụp tối, chúng tôi kéo trong giỏ ra chiếc radio nhỏ để nghe đài BBC. Thật là khủng khiếp khi nhìn ra bầu trời tối đen (chỉ mới hơn 6 giờ chứ mấy), và nghe tin tức về một vụ cướp tại vùng Bihar (tiểu bang mà chúng tôi hiện đang di chuyển). Một toán cướp đã chận đường những xe buýt hành khách, ra lệnh cho đàn bà con gái xuống xe và tất cả hành khách phải trao ra vật quý rồi thì nhả đạn vào những người đàn ông còn lại trên xe. Tin tức thật hấp dẫn và có lẽ chỉ làm chúng tôi rùn mình xót xa một thoáng rồi qua, nếu chúng tôi đang ở Âu Mỹ xa xôi hay ở một nơi an toàn nào khác. Đằng này chúng tôi đang ngồi trên một chiếc xe buýt hành khách, mà lại là loại tối sang trọng nữa chứ và chạy bon bon như không có việc gì xảy ra trong vùng Bihar. Tâm tư bỗng nhiên khuấy động những viễn ảnh của bao nhiêu thứ chết lần lượt hiện ra như một cuốn phim, có thể một viên đạn sẽ ghim vào óc chăng, thật thê thảm khi cái đầu be bét máu và mắt trợn trừng như tiếc nối những hình ảnh sau cùng của trần thế. Hay là một viên đạn sẽ xé tan lòng ngực ghim vào tim, làm tắt đi nguồn sống tức khắc. Hay nó sẽ đi vào bụng làm máu chảy ra từng hồi với những cơn ho khắc khoải thay cho lời trối trăn cuối cùng. Tôi phải rùn mình trước những tư tưởng ‘đỏ’ đó, mặc dầu là một tu sĩ Phật Giáo được học và nghe giảng về vô thường về sự hoại diệt của tất cả hiện hữu, nhưng những thứ đó đều đã được nghe và đọc như những thu thập về các loại khoa học giả tưởng mà thôi, tôi không có một khái niệm thực tiễn nào về vô thường cả. Ngay cả trong những lúc thực hành các đề mục thiền quán về vô thường thì hình ảnh vô thường vẫn thơ mộng và đẹp quá. Trong kinh Kim Cang đức Phật dạy: “Hãy luôn luôn quán tưởng tất cả các pháp hữu vi (hiện tượng) như là giấc mộng, như bọt nước, như sương mai hay như tia điện chớp“. Tôi có lúc đã dùng nó để làm đề mục quán sự vô thường (dĩ nhiên là cách hiểu biết hoàn toàn hạn hẹp và không đúng mức về lời dạy cao siêu như thế!) và giấc mộng tuy có mau qua nhưng âm hưởng của cái chăn ấm áp vẫn lấn cái vô thường của giấc mộng, bọt nước trong chốc lát sẽ tiêu tan không có thật tướng nhưng nó vẫn đẹp, vẫn trắng xoá khi từng đợt sóng biển lùa vào bãi, hạt sương dưới ánh dương quang sẽ tan biến trong phút giây nhưng vẫn long lanh như những viên ngọc quý đong đưa trên ngọn cỏ hay đầu lá và tia điện thì mang nhiều màu sắc của thiên nhiên. Nhưng bây giờ thì sự vô thường đến thật bất ngờ, đến vì tôi nghĩ rằng sinh mạng mình đang bị đe dọa; thì ra người ta chỉ cảm nhận được giáo lý khi mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân hay nói đúng hơn, khi mà cái bản ngã của chính mình bị đe dọa trong một hình thức nào đó thì mình mới chịu khó suy sét giáo lý về khía cạnh đó [đúng với câu kệ “Trì niệm Phật kinh duy khốn khổ“(chỉ nhớ nghĩ đến kinh điển của Phật khi bị khốn khổ)], thật vô cùng xấu hổ. Nhưng khi ấy tôi đâu biết xấu hổ, chỉ biết rằng có lẽ mình sẽ không đến được Bồ Đề Đạo Tràng chăng? sẽ không đủ phước duyên đảnh lễ kim cương toà chăng? Ước vọng đến được Bồ Đề Đạo Tràng bỗng trở nên to lớn vô cùng, có lẽ vì vậy mà tôi đã phải trở lại Bồ Đề Đạo Tràng hai lần nữa, sau khi rời khỏi nơi đây vài ngày sau đó để viếng thăm những thánh tích khác.

 Cuối cùng thì xe đã đến Gaya an toàn (quý vị cũng chắc rằng tôi đã đến an toàn phải không, nếu không vậy thì Vô Thức nào ngồi đây để ghi lại những kỷ niệm này). Xe chạy qua những đường phố ngoằn ngèo nhỏ xíu, đôi lúc tôi cứ sợ xe sẽ va vào tường của một ngôi nhà nào đó. Những anh tài Ấn Độ thật là tài tình, có lẽ lái xe giỏi nhất chính là tài Ấn Độ, khi còn ở Đức tôi vẫn thường lái xe và nghĩ rằng mình lái không tệ, nhưng bây giờ so với các anh Ấn Độ thì phải chịu thua xa. Xe vẫn tiếp tục chạy và ô kià, nó đã bỏ lại thị trấn sau lưng. Tôi ngạc nhiên nhìn thầy Hạnh Nguyện, thầy ấy hiểu ý cười: ‘có lẽ Hạnh Nguyện nhớ lộn, ở đây tỉnh nào cũng giống tỉnh nào, nhất là trời tối nữa“. Tôi ngã ngưòi trở lại ghế ngồi thư giản những căng thẳng chờ đợi để nhìn thành Dà Gia (Gaya). Nhưng chỉ độ 15 phút sau thì xe đổ ở một bến nằm giữa một vùng tối đen loe lét những ngọn đèn dầu. “Trạm chót, trạm chót“ anh lơ lùa hành khách xuống xe. Chúng tôi ngỡ ngàng xách ba lô, leo xuống. “Hỏi lại coi có chắc là Gaya không?“ tôi thúc thầy Hạnh Nguyện vì tiếng Anh tôi kém lắm mà nói chuyện với Ấn Độ lại càng không đủ. Ai cũng bảo là Gaya và chúng tôi dỡ khóc dỡ cười, vì trời tối đen như mực mà không anh Ấn Độ nào chịu biết nói dùm tiếng Anh. Cuối cùng thì có một ông hành khách có lẽ thương hại hai anh chàng ngoại quốc ngốc ngếch nên đã đến bên chúng tôi bảo: “Đây cũng là một bến của Gaya, nhưng chỉ là bến phụ; các anh phải đi qua bên kia cầu thì mới đến được Gaya, các anh yên tâm mà ngồi lên xe xích lô đây, ông ta sẽ đưa đi không xa lắm đâu.“ Chúng tôi nghe nhẹ cả người, ngồi lên chiếc xe xích lô cao nghiệu để cho ông Ấn Độ già nua ì ạch đạp, không còn đâu tâm trí để tội nghiệp ông ta khi màn đêm đang bao phủ và thân thể thì mệt nhoài sau tuyến đường sáu tiếng đồng hồ (theo sách ghi lại và anh chủ xe nói thì chỉ ba tiếng thôi vì chỉ có khoảng 180 km thôi mà); quả nhiên trong cảnh khổ tột cùng thì chúng sanh sẽ không có cơ hội để phát bồ đề tâm!

 Đến Gaya thì trời đã quá tối không anh xe lôi nào chịu chở vào Bodh-Gaya cả. Chúng tôi đành phải thuê một khác sạn cá kèo ngủ lại đêm, một phòng hai giường có nhà vệ sinh và bồn rửa mặt nằm......bên ngoài, chỉ tốn 100 Rs mà thôi. Sáng hôm sau khi trời tờ mờ lên, tôi đã thức dậy nôn nao, sau khi làm vệ sinh cá nhân xong tôi ra phía lan can nhìn mặt trời bình minh, bầu trời mù sương tạo một mặt nhựt hồng đỏ tươi thắm, khác với màu máu đỏ trong sự tưởng tượng của tôi tối qua. Xí xọn tôi đã lấy chiếc máy chụp hình ra chớp một cảnh để kỷ niệm “mặt trời lên nơi thành Dà Gia vào ban mai“, một việc làm uổng phí vì thứ nhất máy tôi không đủ chuyên môn và tôi không phải là chuyên viên nhiếp ảnh, kết quả là một tấm hình lờ mờ xam xám với một bệt đo đỏ ngay chính giữa như cười vào mặt tôi về cái vụng về của mình. Chúng tôi sau đó đã trả phòng và đi ra nhà ga xe lửa để thuê xe lam. Xe lam là tôi tạm mượn danh từ dùng thôi, chứ Ấn Độ đâu có, hay tôi chưa thấy có, dạng xe lam như ở Việt Nam. Xe lam ở đây có một cái thùng được chia làm hai phần, phía trước anh tài ngồi trên máy xe và có một bánh lái, phía sau là một băng dài vừa ngồi đủ ba người không to con lắm. Những anh lái xe thấy chúng tôi như những con kênh kênh thấy xác chết ùa cả lại, “Bodhgaya, Sir? please, please, come, come“ (các ông đi Bồ Đề Đạo Tràng hả, xin mời, xin mời, lên xe). Chúng tôi không biết phải đi xe nào, bỏ xe nào. Sau khi hỏi giá, các anh tài đều đòi giá quá cao, chúng tôi liền bỏ đi và nghĩ rằng xe ở tại bến lúc nào cũng đắc hơn bên ngoài. Đi ra một quán trà bên ngoài chúng tôi kêu hai ly trà Ấn Độ, trong một ngôi quán lụp xụp húp ly trà sữa nóng khói nghi ngút thật là một hạnh phúc khó tả. Có lẽ ngưòi Ấn Độ cũng nghĩ như chúng tôi, nên quán chật ngẹt những anh Ấn Độ đang quấn chăn ngồi bó gối lim dim với vị ngọt của từng hớp trà để cho cái ấm của ngụm nước thấm dần vào bao tử để lại một vị chan chát của trà và vị béo thơm tho của sữa. Chúng tôi trong những ngày ở Ấn Độ đã sống rất là Ấn Độ, không một quán nào chúng tôi chưa thử qua, ăn một dĩa Thali chỉ 10 Rs (khoảng 30 Cent) hay một bữa ăn cả 100Rs cũng có. Khi đó thầy Hạnh Nguyện thoáng thấy một chiếc xe lam chạy qua, thầy ấy mau mắn đứng dậy kêu lại và ngã giá cho chuyến đi Bồ Đề Đạo Tràng cả luôn Linh Thứu Sơn và Nalanda sau đó. Xe bằng lòng với giá 300 Rs, nhưng anh tài cũng bị một số anh khác chửi rủa cho một trận vì các anh kia đã đòi chúng tôi chỉ đi Bồ Đề Đạo Tràng thôi 100Rs mà chúng tôi không chịu đi. Chúng tôi trước tiên đi đến chùa Việt Nam của Giáo Sư Quốc. Rồi ra tháp Đại Giác (Maha Bodi).

Hình ảnh ngôi tháp cổ kính đã làm tim tôi rung động bàng hoàng. Tôi không biết khi một anh thanh niên thông thường gặp được người yêu thì tim đập như thế nào, nhưng cảm xúc của tôi đối với hình ảnh của Bồ Đề Đạo Tràng có lẽ có phần hơn hoặc bằng chứ không kém. Mua những bó nhang và nến xong tôi cố gắng đi thật chậm để khỏi phải chạy ùa vào tháp, mà cũng để nuốt trọn vào tâm hình ảnh của vùng kỷ niệm người xưa. Một ngọn tháp đứng sừng sững giữa một vùng cây xanh biếc. Khác với những ngọn tháp kiều mỹ của vùng đông nam Á, ngọn Đại Giác chỉ có bốn mặt và đi thẳng từ dưới nhọn dần đến đỉnh chớ không có một mái cong nào tô điểm mỗi tầng. Trên tường của tháp có khắc những hoa văn nổi theo hình vòm hay hoa sen thật là đặc biệt. Một ngôi tháp Trung QuốcNhật Bản hay Việt Nam cũng thế đều mang vẻ đẹp mềm mại và ẻo lã, trong khi ngọn Đại Giác lại hùng dũng như tuyên chiến cùng thế gian. Ngọn tháp nhọn vút như trí tuệ của đức Phật, tột cao và tột bén nên không có một chỗ đứng nào khác cho một thứ trí tuệ thứ hai song song với nó cả, nó là tột đỉnh của các trí tuệ nằm bên dưới; nhưng chính vì có cái nền rộng và đầy các hoa văn nên đỉnh nhọn kia mới nổi bậc trong cái dáng oai hùng đơn giản của nó. Chung quanh tháp Đại Giác còn vô số những tháp lớn nhỏ đã được tạo dựng sau đó. Có thể là một vị quốc vương được toại ý một điều cầu nguyện nào, nên đã xây tháp đáp lễ, có thể là một thủ tưởng, bộ trưởng nào đó đã xây tháp vì thân nhân mình được qua một cơn hiểm nghèo qua sự gia trì của đức Phật. Cũng có những tháp được dựng nên đơn thuần chỉ vì sự cầu nguyện cho chúng sanh đều được vào quả vị giác ngộ tối cao.

Bỏ lại sau lưng ngưỡng cửa vào khu tháp và những người ăn xin Ấn Độ kêu la thảm thiết để kích động lòng từ của khách hành hươngchúng tôi đến một cầu thang dẫn thẳng vào ngôi tháp. Nơi đây tôi cũng có một so sánh (thật là khó bỏ được tập khí này phải không? tuy giáo lý luôn nhắc nhở hãy bỏ đi những nhị nguyên của cuộc đời mà người tăng sĩ như tôi lại cứ chạy theo những so đo!). Những tháp mà chúng ta đã thấy qua, thường nằm trên những vùng cao hay ít nhất cũng được tô bồi cho cao lên. Để vào tháp chúng ta phải vượt qua những tam cấp cao rộng thênh thang, như người Việt chúng ta vẫn quen với ngôi tháp Giác Duyên nổi tiếng của chùa Linh Mụ Huế. Nhưng ở đây thì không, cầu thanh này cũng rộng đó nhưng lại dẫn đi xuống, vì ngôi tháp nằm ở một vị thế thấp, tuy vậy nó vẫn sừng sững vươn lên, vẫn vượt trội toàn vùng cao vút. Phải chăng đây cũng là hình ảnh của con người mà ngôi tháp này đã được dựng nên để kỷ niệm, một con người đã sanh ra trong nhung lụa giàu sang nhưng lại bỏ tất cả từ một vương vị cao sang đã ‘bước xuống’ sống đời người khất sĩ, một danh từ hoa lệ để chỉ cho kẻ xin ăn. Và cũng từ nơi tận cùng khốn khổ người đã vượt cao lên, cao mãi, cao vút đến vô song như hình ảnh đoá hoa sen vượt khỏi bùn nhơ nở hương thơm ngát như ta vẫn thường so sánh. Để tỏ ra lòng tôn kính và thể hiện những cảm xúc dồi dào tôi cũng như bao người đến chốn này đã phải hạ mình thật thấp, cuối rạp người cũng chưa đủ thấp, phải duỗi hẳn người ra cũng dường như chưa đủ thấp, nên cố ấn người mình thêm sâu vào lòng đá. Hầu như ai đến Bồ Đề Đạo Tràng cũng cảm thấy mình phải ít nhất một lần tam bộ nhất bái quanh tháp như vậy.

Khi con người gặp nhau trên cùng một lãnh vực tâm linh thì sự xa lạ không còn là vấn đề nữa, đó là tâm trạng của những người đến Bồ Đề Đạo Tràng. Tất cả mọi người trở nên như bằng hữu hay quen biết, không một ngượng ngạo nào khởi lên khi cả hai người tóc đen và tóc vàng cùng ngồi vào chiếc băng ghế ọt ẹt của cái quán trà bên kia tháp để hưởng hương vị ly trà sữa Ấn Độ đặc biệt, để cùng nhau đi đến một sự quen biết đậm đà hơn. Đã nhiều lần đến Bồ Đề Đạo Tràng nên những anh bán trà, bán nước miá cho tôi uống chịu là chuyện thường, đôi khi ông bán chuỗi hột còn cho tôi thiếu cả một, hai trăm đô la đến mấy tháng trời đi biệt dạng. Đây phải nói là một việc hy hữu vì đối với Ấn Độ vài mươi Đô đã là một số tiền lớn. Trong những chuyến viếng thăm nơi đây tôi đã quen một cô người Pháp, mạnh khoẻ và đã làm việc tích cực cho một hội Tây Tạng từ nhiều năm. Cô ta mỗi năm đều sang Bồ Đề Đạo Tràng để tu tập một tháng, kinh hành nhiễu Phật; mỗi ngày cô ta có thể đi hàng ngàn vòng chung quanh tháp Phật và trì niệm thần chú cũng như danh hiệu của vị Phật mà cô đang tu tập. Việc này tương đương với một người đi bộ khoảng vài mươi cây số một ngày. Bẵng đi một thời gian hai năm tôi không gặp cô ta, có lẽ vì cả hai đến Bồ Đề Đạo Tràng không cùng một thời gian.

 Lại một mùa đông sắp đến trường cho nghỉ hai tuần, tôi và một thầy nữa đã cùng đi Bồ Đề Đạo TràngThật không thể có một nơi nào mà mỗi lần viếng thăm, cảm xúc lại trào dâng mạnh hơn như nơi đây. Cũng như mọi khi, đến nơi vào cất hành lý xong là tôi vội vàng ra ngay tháp, như một đứa con đi xa nhà vội vã đến chào cha mẹ sau một thời gian dài vắng bóng. Trời đang oi ả nắng, bóng Bồ Đề toả rộng làm một nơi thu hút nhiều người tìm một ch‡ râm. Tôi cũng đến ngồi nơi gốc tường dưới bóng mát thả hồn theo tiếng lá rì rào. Trời đứng gió nhưng chú ý lắm thì ta vẫn có thể nghe được tiếng lá reo, có lẽ do những chú sóc di chuyển hay những con chim chuyền cành làm di động. Cái nóng Ấn Độ thật vô cùng khó tả, nó làm đôi mắt tôi trĩu xuống sau một ngày du hành trên xe lửa mệt nhọc. Khi đó một bóng người đổ dài vào tầm mắt tôi, một người đang từng bước xê dịch vô cùng khó khăn, môi cắn chặt như cố giữ cho tiếng rên khỏi bậc ra cửa miệng. Tôi ngạc nhiên chăm chú nhìn cô gái lạ. Nhưng kià, đâu lạ gì đôi mắt thông minh đầy vui tánh đó. Tôi ngạc nhiên bật người dậy, tỉnh ngủ hẳn và ngoắc cô ta đến chỗ tôi ngồi. Một khoảng ngắn hơn bốn thước mà cô ta cũng phải mất vài giây để đến đích. Chuyện gì đã xảy ra với cô, những năng động ngày nào đâu cả rồi?“ Tôi đã thắc mắc. Cô ta cười thật tươi, gương mặt được trả lại những nét tôi quen biết: Chỉ có trời mới biết, tôi về lại Pháp hai năm trước đây thì bỗng nhiên ngã bệnh. Bác sĩ không thể chửa trị chỉ cho tôi uống thuốc Opium để giảm đau mà thôi. Opium à, đó là thuốc phiện mà tôi ngạc nhiên. “Phải, vì tay chân tôi bị co rút đau đớn vô cùng họ không tìm ra thuốc trị, nên đành phải cho tôi uống thuốc phiện để làm giảm đau thôi, chỉ làm giảm đau thôi, vì mỗi bước tôi đi vẫn giống như đi trên đinh vậy. Chắc thầy còn nhớ câu chuyện nàng công chúa thuỷ tề của thần thoại Đan Mạch chứ. Tôi bây giờ cũng giống như cô ta sau khi đã bán giọng hát của mình cho bà phủ thuỷ để đổi lấy cặp giò. Chỉ khác là đôi chân cô ta nguyên vẹn trong khi hai bàn chân tôi thì đang bị như chuột rút, nhưng cả hai đều phải chịu đau đớn khi di chuyển trên đôi chân của mình rồi cô ta cười thật sảng khoái sau cái so sánh của mình. Cô đến đây bao giờ và đang làm gì? Tôi đến đã hơn mười ngày rồi, ngày nào cũng ra đây đi kinh hành thôi, thầy đã biết pháp môn tu của tôi rồi mà. Kinh Hành tôi không khỏi sửng sốt nhưng đôi chân của cô?. Đó là nghiệp của tôi mà, tôi phải làm tròn lời phát nguyện, biết đâu đây là mùa đông cuối cùng tôi có thể di chuyển và tu tậpĐức Phật đã chứng minh cho tôi thấy sự cố gắng vượt bực của ngài. Tôi chỉ làm theo những gì tôi có thể, trong khả năng hạn hẹp của mình thôi. Nhưng thôi, tôi phải tiếp tục! Bây giờ một ngày tôi chẳng đi được bao nhiêu vòng nữa, thật là tệ quá, tôi không thể bỏ phí thời gian. Chào thầy nghe. Cô ta lại đứng lên lê từng bước nặng nhọc kinh hành.

 Tôi nhìn theo bóng cô bồi hồi, theo tôi thì cô ta kinh hành hôm nay nhiều hơn những năm trước và những bước chân của cô như để lại trên nền những đoá sen mầu nhiệm. Nhìn cô tôi nhớ đến một anh chàng người Pháp khác đã ngồi trên chiếc xe lăn được bạn bè đẩy đi. Anh ta bị liệt toàn thân bặt cả ngôn ngữ. Nhưng đôi mắt đẩm đầy nước mắt làm ngời lên niềm hạnh phúc phản chiếu trong đó khi anh ta nhìn ngôi tháp thế tôn, đã nói lên tất cả những gì mà ngôn ngữ khó thể diễn đạt. Sau khi ngồi lặng nhìn ngôi tháp một lúc lâu người bạn của anh đã đẩy chiếc xe lăn đi dọc theo hành lang quanh tháp, trước mỗi trụ đá xe đều ngừng lại như để anh ta có thể nghiêng mình đảnh lễ trước di tích của Như Lai.
Những hình ảnh đẹp và cao thượng tại một nơi tôn nghiêm như là những biện minh hùng hồn cho giá trị của nơi đó và xa hơn nữa là cho những gì đã được dạy, bởi chính con người từ nơi đó ra đi. Ngày nay trong mỗi mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4, hàng ngàn phật tử muôn nơi đổ về để lễ bái nguyện cầu. Không khí thật nhộn nhịp trong một niềm vui đạo vị, khi mọi ngưòi vui theo từng giọt mồ hôi của những vị lễ dài hàng ngàn lễ mỗi ngày quanh tháp, hay theo từng nhịp điệu cầu kinh của những vị đi hay ngồi quanh tháp tụng niệm.

Một nơi mang tên Uruvela.
Từ giã Ca Tỳ La Vệ thái tử Sĩ Đạt Ta đã băng qua vùng sinh sống của dòng họ Thích, vượt qua vùng đất của dòng họ Krobiya và bỏ lại sau lưng xóm làng dòng họ Malla. Ngài đã đến bên bờ A Nô Ma! xuống ngựa, cắt tóc, cởi hoàng bào để đổi chiếc áo người thợ săn đã bạc màu từ màng trắng đã ngã vàng, trong tiếng khóc nức nở của người hầu cận Sa Nặc, ngay cả con ngựa Kiền Trắc cũng phải gục đầu trước cảnh biệt ly để cho những giòng lệ yên lặng chảy hoà vào lòng đất thẳm ướt của bồ sông. Phải chăng bờ sông cũng đã đưa những dòng lệ của nó vào bờ để tỏ sự chia buồn với hai nhân vật kia. Tiếng sóng rì rào như bàn tán nhau về sự kiện của một vị dòng cao quý đã từ bỏ giàu sang để đổi lấy đời sống của Sa MônTiếng gió rung cây như đang truyền nhau nghe tin tức về một sự kiện hy hữu đang xảy ra.
Thôi đừng khóc nữa Sa Nặc à, đâu có gì phải buồn bã, ngươi nên mừng cho ta, vì từ đây ta sẽ sống theo ước nguyện của mình. Ngươi hãy về và thưa với phụ hoàng, bao giờ tìm được giải thoát khổ não cho tất cả mọi loài ta sẽ trở về để tuyên nói nó cho phụ hoàng nghe.

Hạ thần cũng mừng cho thái tử, nhưng sao có thể dằn lòng trước những thường tình của cảnh sanh biệt tử ly, thái tử nhìn kià chính con ngựa vô tri kia mà cũng còn đổ lệ.
Ta rất hiểu tâm trạng của nhà ngươi, nhưng hãy nghe lời ta mà quay về đi
Xin vâng, tuy nói thế nhưng Sa Nặc vẫn dõi trông theo hình bóng của Sa Môn Sĩ Đạt Ta đi dần theo bờ sông, ánh bình minh làm bóng ngài đổ dài về phiá hắn như một lời hứa hẹn rằng tuy thân thể có cách ngăn nhưng tình chủ tớ vẫn luôn hiện hữu. Bóng ngài đã xa mờ trong sương sớm, hắn quay về vuốt ve chiếc buồm con Kiền Trắc rồi thót lên lưng nó. Mặc dầu hắn giật mạnh giây cương, con ngựa như mất hết sinh khí chỉ miễn cưỡng lửng thửng đi theo sự điều khiển của hắn. Rốt cuộc hắn cũng bỏ mặc để nó nện những chiếc vó câu chậm chạp xuống đường như điệu nhạc hát lúc chia tay.

Thái tử Sĩ Đạt Ta giờ đã là một vị Sa Môn tuấn tú, bước chân oai vệ của một vị vương giả sống trong chức trọng quyền cao không vì chiếc áo tả tơi mà vơi đi. Đến một khúc sông cạn ngài đã lội qua bên kia và đi dần về cương thổ Ma Kiệt ĐàTrước tiên ngài đã đến Tỳ Xá Ly để theo học với Arda Kilapa nhưng ngài đã không hài lòng về giáo lý của ông taẠ. Ngài sống cuộc đời như bao vị Sa Môn khác, lặng lẽ đi, đến trưa thì dừng chân trước nhà những dân làng để chờ sự cúng dường cũng trong im lặng rồi lại im lặng cất bước, trên quảng đường du hành ngài đã nghe danh tiếng của tiên ông Bạt Già Bà (Bhagavà), nhưng giáo lý của ông chỉ cầm chân ngài được một đêm. Rồi ngài lại lên đường tìm đến những nhà học giả trứ danh của Ấn Độ thời bấy giờ là A Ra La Ca Lan (Aralakalama) và Uất Đầu Ka La Ma Tử (Udraka-Ramaputta) để học hỏi, nhưng triết lý cao diệu của những nhà hiền triết này chỉ đặt trọng tâm vào sự thiền định để sanh vào những cõi trời phi tưởng và phi tưởng phi phi tưởng mà thôi. Sau một thời gian thực hành ngài đã xác định rằng đây không phải là cứu cánh. Thế là ngài đã tiếp tục tiến bước dần vào thủ đô của Ma Kiệt Đà, thành vương xá.

Một sáng khi bãi triều xong, vua Tần Bà Sa La, lên thành cao để nhìn xuống sự sinh hoạt của dân. Nhà vua bỗng ngạc nhiên phát hiện trên đường giữa những người dân hạ tiện có một bóng người bước đi vô cùng oai vệ, giống như hình ảnh một con thiên nga cao quý đang lội giữa bầy vịt trời hay như một thớt tượng oai dũng giữa những con lừa lao xao. Nhà vua đã cho vời ngưòi hầu cận sai tìm ra tông tích vị Sa Môn kia. Sau khi biết chỗ vị Sa Môn ấy trú ngụ nhà vua đã tìm gặp:
Kính lễ Sa Môn, trẫm từ trên bờ thành nhìn thấy Sa Môn có dung mạo khác thường nên nghĩ rằng chắc xuất thân từ dòng dõi cao quý nên tìm đến đây để luận bàn
Ngài có thể cho trẫm biết nguồn gốc không?
Thưa bệ hạ trước kia, Sĩ Đạt Ta thuộc dòng họ Thích Ca con vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ nhưng hiện tại tôi chỉ là một Sa Môn mà dòng dõi của Sa Môn là từ Phạm thiên, nhưng tôi không phải là một sa môn tốt, vì tôi không hài lòng với những gì Phạm thiên đã truyền dạy

Nghe những lời trung thực của Ngài, vua Tần Bà Sa La nghĩ rằng đây là một đấng quân vương đúng nghĩa, nên ngài đã đề nghị: Thế thì ngài nên bỏ đi cuộc đời khất sĩ mà trở về với thế tục. Nếu ngài bằng lòng ở lại đây cùng trẫm thì trẫm sẽ chia ngài nửa giang san này để cùng cai trị.
Sa môn mỉm cười. Đâu có gì đáng lưu luyến trong cõi thế giả tạm, nếu muốn vương vị thì tôi đã ở lại hoàng triều chứ đâu cần phải đến đây để chịu ơn bệ hạ. Ý nguyện duy nhất của tôi là phải tìm ra con đường giải thoát chân chánh
Nghe những lời cảm khái, nhà vua nghĩ rằng nếu trong đời này có người đạt được giác ngộ, người đó phải có một quyết tâm dõng mãnh như vị sa môn thái tử này, nên nhà vua đã thưa: “Ngài đã có chí, trẫm nghĩ sẽ thành. Khi nào tìm ra đạo giác ngộ ngài hãy đến để dạy lại cho trẫm. Trẫm chắc chắn sẽ mong chờThái tử không ngần ngại nhận lời: Bệ hạ yên tâm, khi nào giác ngộ tôi sẽ trở về truyền đạt sự hiểu biết của tôi cho bệ hạ. Nghe nói vùng này có một vị đại Sa Môn Rudraka nổi tiếng tôi muốn đến để tham học với ngài

Rồi ngài từ giã nhà vua ra đi, vua Tần Bà Sa La đã kinh ngạc nhìn theo bóng ngài chững chạc bước đi trong nắng chiều với tâm đầy ái mộ cũng như bao người trước đó cũng đã từng nhìn theo và ái mộ ngài trên suốt quảng đường ngài đã đi qua.

 
 


Nhưng rốt cuộc ngài cũng không thể hài lòng với những gì Radraka giảng dạy, nên đã lại ra đi cùng với năm vị đệ tử của Radraka vì họ quá cảm mến ngài và không muốn rời ngài nữa sau một thời gian ngắn quen biếtCuối cùng họ đã vượt đường tìm đến làng Uruvela, nơi có nhiều ẩn sĩ đang tu tập phép khổ hạnh. Bên dòng sông Ni Liên (Nairanjana) là một khu rừng rất gần Bồ Đề Đạo Tràng ngày nay. Trong khu rừng đó có nhiều người đang đứng một chân, không bao giờ thay đổi, có người đang đứng bằng tay không bao giờ quay xuôi người lại, có người nằm ép mình sát xuống đất không bao giờ trỗi dậy, có người lấy cây đập vào thân thể mình không ngừng nghĩ một giây... Mục đích chung của mọi người là chế ngự các cảm thọ của thân thể để có thể tập trung vào tâm linh mà hoà nhập vào đại thể của Phạm ThiênSa Môn Cồ Đàm và năm vị sa môn kia cũng đến đây và gia nhập vào sự tu tập khắc khổ kia. Sa Môn Cồ Đàm đã vô cùng khắc khổ, mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo trong suốt hai năm liền và bốn năm kế hoàn toàn không ăn gì cả. Trong hai năm đầu ngài đã thực hành nhiều pháp môn để cảm thọ tận cùng các khổ đau của thân thể. Sau những cố gắng tột cùng đó, ngài vẫn không thể tìm ra tia sáng giác ngộ nào.

 

Một ngày nọ khi đang cảm nhận những khổ đau của thân ngài nghe có tiếng một lão nhạc sĩ đang dạy người học trò: Khi căng giây đờn con phải biết thế nào là mức độ vừa phải đúng đắn. Nếu con làm quá căng giây sẽ đứt, nếu con để quá chùn đàn sẽ không kêu. Chỉ khi nào giây con căng đúng mức đàn mới phát ra được âm thanh vi diệu“. Nghe những lời như thế ngài quán chiếu lại quãng đời của mình, những ngài sống trên nhung lụa chẳng khác nào dây đàn thả lỏng, nhưng đến khi tu tập thì lại bị quá căng, ngài nghĩ phải tìm một lối nào khác hơn chăng. Thế rồi ngài cố gắng rời chỗ ngồi đi đến bên sông Ni Liền ngâm mình vào dòng nước mát. Mặc dầu trời đã nóng lắm vào tháng tư nhưng ngài vẫn không thấy cái chói chang của mặt nhựt. Những dòng nước chảy qua thân ngài làm mềm dần lớp cáu đóng trên người và tạo nên một sự thoải mái cho thân, tinh thần ngài cũng phấn chấn hẳn lên. Tắm xong ngài đi dần về phía bóng râm của làng Uruvela, nhưng mặc dầu tinh thần ngài vô cùng phấn chấn thân thể ngài lại quá suy nhược khó lòng đi được xa. Đến một gốc cây bên đường ngài ngồi xuống dưỡng thần, sau khi tắm rửa ngài cảm thấy có nhu cầu phải an thần một lúc thế là ngài để tâm rỗng rang thân thư thái, ngài lần lần đi sâu vào một trạng thái định. Khi đó cô bé chăn dê đang đi dần đến, cô còn bé quá nhưng gia đình ngèo nên phải làm việc để phụ giúp cho mẹ cha. Không như những đứa trẻ khác có thời giờ để ngồi bên bà ngoại hay bà nội để nghe kể những câu chuyện cổ tích, không có người kể thì cô hay tự kể cho mình nghe. Trong những lúc bầy dê đang đi tìm ăn thì cô thường ngồi dưới một gốc cây dệt những chuyện vô cùng kỳ thú để giải trí. Hôm nay cô rất là vui vì cha cô cho cô một túi mật để dặm thêm cho bữa ăn trưa. Đây là một việc rất hiếm hoi, chỉ khi nào ông bán được số cũi mà ông đốn mới có mà thôi. Trong đầu cô đã tưởng tượng cảnh nếm từng giọt mật ngọt ngào, để nó thắm dần qua đầu lưỡi đi sâu vào huyết quản. Đang say sưa với ý nghĩ cô đi thẳng đến gốc cây mà Sa Môn Cồ Đàm ngồi. Cô khựng lại khi chỉ còn cách ngài hai ba thước, cô ngẻo đầu kinh ngạc ngắm nhìn người lạ mặt. Cô thấy trước mắt một người có khuôn mặt hóp sâu, tóc đánh cao trên đỉnh đầu râu ria dài quanh mặt. Tuy vậy trong vẻ hóc hác cô vẫn thấy ông ta toả ra một cái gì vô cùng cao quý. Cô nghĩ chắc đây là một vị trời, thế rồi cô bỗng nhớ đến những câu chuyện cô tự kể, trong đó có những cô bé ngèo như cô nhưng đầy lòng trung hậu đã biết cúng dường những vị trời nên được phước báo to lớn. Thế rồi cô cởi chiếc bầu đeo bên người xuống, lấy chiếc bình bát đổ vào đó đầy cháo sữa mà cô đã mang theo để ăn trong ngày, xong xuôi cô lại cởi chiếc bầu đựng mật trân trọng trút ra từng giọt mật thơm ngậy vào bát cháo. Tất cả cô làm bằng lòng thành kính và tâm ngây thơ của một cô bé tin vào chuyện thần thoại mà cô thường tự sáng tác ra để giải buồn. Cô kính cẩn quỳ xuống dâng lên bát cháo: “Hỡi đấng phạm thiên cao quý, con xin ngài hãy nhận nơi con bát cháo sữa này với tất cả lòng thành và ban cho con khỏi sự khổ đau“. Nghe tiếng cô bé, Sa Môn Cồ Đàm rời khỏi định: Ta không phải là một vị trời ta chỉ là một đạo sĩ thường, trên con đường đi tìm giác ngộ. Khi cô bắt gặp ánh mắt của ngài bỗng một luồng hơi ấm tràn ngập tim cô, cô cảm nhận được một tình thương rộng lớn trong đôi mắt ấy và giọng nói yếu ớt của ngài chứa đầy thiết tha. Có lẽ ngài sợ cô phải thất vọng vì ngài không phải là một vị trời nên không thể ban bố cho cô đặc ân hết khổ chăng? Nhưng bây giờ thì cô đâu cần nó nữa cái cảm nhận mà ánh mắt ngài đã ban cho cô đã đủ lắm rồi: “Dầu ngài là trời hay chỉ là đạo sĩ cũng xin nhận nơi con sự cúng dường này. Con nguyện cầu cho ngài được giải thoát giác ngộ như mục tiêu hành đạo của ngài“. Ngài đã nhận lời, cô bé vui vẻ đứng lên chạy theo bầy dê đã đi khá xa, chạy một đỗi cô quay lại vẫy tay như chào tạm biệt.
Trong lúc Sa Môn Cồ Đàm dùng cháo thì năm anh em đạo sĩ theo ngài cũng tìm đến nơi họ vô cùng khinh ngạc: Ngài phá bỏ lời nguyện à? Sa Môn Cồ Đàm đã chịu thua trước sự hành xác và trở lại với cuộc đời lạc thú sao? Rồi không đợi ngài nói lời nào, họ quày quả bỏ đi. Không như đứa bé chăn dê, họ không hề ngoái cổ lại nhìn một lần cuối để có thể bắt gặp ánh mắt sáng ngời đầy tình thương của ngài như thầm hứa hẹn sẽ đem lại ánh sáng giải thoát cho họ khi ngài được giải thoát.

Dùng xong bát cháo ngài lia cái bát xuống giòng nước nhìn cái bát theo giòng trôi ngài phát lên lời nguyện: Ta nguyện đạt được giác ngộ rốt ráo, nếu lời nguyện ta thành thì bát nước hãy trôi ngược giòng. Khi đó bỗng nhiên từ đâu xuất hiện một con rắn hổ mang bơi đến bên chiếc bát và đưa nó đi ngược lại phiá ngài, trên bầu trời lại có tiếng chim kêu vang. Một bóng chim với đôi cánh vàng ánh như kim loại đang lượn vòng trên không rồi nó xà xuống thật nhanh cấp chiếc bát ngài bay vút vào hư không.Ạ Ngài băng qua bên kia sông đến bên một gốc cây cao su định ngồi xuống bỗng có người bán cỏ đi ngang dâng cho ngài một bó cỏ Kusa (kiết tường). Lấy cỏ làm nệm ngài phát nguyện phải đạt đạo trước khi rời chỗ ngồi này. Sau 49 ngày ánh sáng trí tuệ đã bừng dậy trong ngài. Từ đó tên làng được nhiều người biết đến, nhưng không phải cái tên Uruvela mà là Bodh-Gaya, nơi thành đạo; cây cao su ngài ngồi cũng đã được đổi tên thành cây Bodhi (Bồ đềgiác ngộ).

Quá trình tu tập và chứng đắc.

Trong kinh đức Phật đã tường thuật về những nỗ lực của ngài như sau: Này Aggivessana, rồi ta suy nghĩ: ‘ta hãy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm!’ Này Aggivessana rồi ta nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Khi ta đang làm như thế, mồ hôi toát ra ướt đẫm nách của ta. Này Aggivessana như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu hay nắm lấy hai vai, có thể chế ngữ, nhiếp phục và đánh bại người ấy. Này Aggivessana, dầu ta có chí tâm tinh cầntinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta.

Này Aggivessana, rồi ta suy nghĩ như sau: ‘ta hãy tu thiền nín thở’. Và này Aggivessana, rồi ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng và ngang qua mũi. Này Aggivessana, khi ta nín thở như thế thì một tiếng gió động kinh khủng thổi lên, ngang qua lỗ tai. Này Aggivessana giống như tiếng kinh khủng phát ra từ ống thổi bệ đang thổi của người thợ rèn. Cũng vậy này Aggivessana tiếng gió thổi ngang lỗ tai ta khi ta nín thở như thế. Này Aggivessana, dầu ta có chí tâm tinh cầntinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta.

Này Aggivessana rồi ta suy nghĩ như sau: ‘ta hãy tu thiền nín thở’. Và này Aggivessana, rồi ta nín thở vô, thở ra ngang qua miệng, ngang qua mũi và ngang qua tai. Này Aggivessana, khi ta nín thở như thế thì ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu ta. Này Aggivessana ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc, cũng vậy này Aggivessana, khi ta nín thở như thế thì ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu ta. Này Aggivessana, dầu ta có chí tâm tinh cầntinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn, do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm ta.

Khi đó Bồ tát đã liên tục dùng đủ loại hình thức để cảm thọ sự khổ trong việc tu nín thở, những cảm giác nóng kinh khủng cắt ngang qua bụng như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang qua bụng với một con dao cắt thịt bò sắc bén, những cảm giác nóng kinh khủng khởi lên trong thân như bị hai người lực sĩ sau khi nắm cánh tay một người yếu hơn nướng người ấy đốt người ấy trên một hố than hừng
Lại nữa chư thiên thấy vậy nói như sau: ‘Sa Môn Gotama đã chết rồi.’ Một số chư thiên nói như sau: ‘Sa Môn Gotama chưa chết, nhưng Sa Môn Gotama sắp sửa chết’. Một số chư thiên nói như sau: ‘Sa Môn Gotama chưa chết. Sa Môn Gotama, cũng không phải sắp chết. Sa Môn Gotama là bậc A La Hánđời sống một A La Hán là như vậy’

Sau đó thì bồ tát quyết định tuyệt thực và chư thiên đã đến và nói như sau: “Này thiện hữuHiền giả chớ hoàn toàn tuyệt thực. Này Thiện hữu, nếu Hiền giả có hoàn toàn tuyệt thựcchúng tôi sẽ đổ các món ăn chư thiên ngang qua các lỗ chân lông cho Hiền giả, nhờ vậy Hiền giả vẫn sống.“ Nhưng ngài đã suy nghĩ: “Nếu ta hoàn toàn tuyệt thực và chư thiên này đổ các món ăn chư thiên ngang qua các lỗ chân lông cho ta và nhờ vậy ta vẫn sống, thời như vậy ta tự dối ta“ và ngài đã bác bỏ những điều thỉnh cầu ấy của chư thiên.

Đức Phật đã giảng về quá trình tuyệt thực của ngài bắt đầu từ cách dùng từng giọt súp đậu và vì vậy mà thân ngài trở nên vô cùng gầy yếu. Tay chân ngài trở thành như những ngọn cỏ hay những đốt cây leo khô héo: bàn trôn của ngài trở thành như móng chân con lạc đà, xương sống phô bày giống như một chuỗi banh, xương sườn gầy mòn giống như rui cột một nhà sàn hư nát, con ngươi nằm sâu trong hố mắt giống như nước long lanh nằm sâu thẳm trong giếng nước thâm sâu, da đầu trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn khô cằn. Ngài nói rằng khi đó ngài rờ vào bụng mình thì gặp phải xương sống nếu rờ xương sống thì gặp phải da bụng, vì ngài ăn quá ít nên da bụng bám chặt vào xương sống. Khi ngài muốn đứng dậy để đi đại tiện hay tiểu tiện thì liền ngã quyuống vì quá yếu. Nếu ngài muốn xoa dịu thân thể, lấy tay xoa bóp chúng, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân ngài. Có người thấy ta thì gọi là Sa Môn Gotama có da đen. Một số người gọi ta là Sa môn Gotama da không đen nhưng có da màu xám. Một số người khác thì cho rằng Sa môn Gotama da không đen, không xám mà lại vàng sẫm.

Khi đó bồ tát đã suy nghĩ: “Thuở xưa có những sa môn hay bà la môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng, không thể có gì hơn nữa. Về tương lai và trong hiện tại, có những sa môn hay bà la môn thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt. Những sự đau khổ này là tối thượng không thể có gì hơn nữa. Nhưng ta, với sự khổ hạnh khốc liệt như thế vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?Ϡ
Và ngài lại hồi tưởng về thuở trước khi vua Tịnh Phạn đang cày và ngài ngồi dưới gốc cây Diêm Phù Đề đã ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Khi nhớ đến điều đó ngài đã tự hỏi hay đó chính là con đường dẫn đến giác ngộ. Và ngài đã khẳng định chính con đường ấy đưa đến giác ngộ. Ngày lại cân nhắc về những lạc thọ có được khi ly dục và ly pháp bất thiện và biết rằng không thể chứng đạt được lạc thọ đó với một cái thân yếu gầy như hiện trạng. Khi ấy ngài đã dùng thô thực và dùng cơm chua, nên năm vị sa môn theo ngài bấy lâu đã bỏ ngài đi trong tâm chán ghét: “Sa môn Gotama nay sống đầy đủ vật chấttừ bỏ tinh tấn, trở lui đời sống sung túc.
Khi ngài đã hồi phục sức khoẻ, ngài liền dùng phương pháp ly dục, ly pháp bất thiện thiền định, tâm ngài đã dễ dàng chứng nhập vào sơ thiềnnhị thiềntam thiền rồi tứ thiền. An trụ trong tứ thiền, tâm ngài vô cùng nhu nhuyễn, trong sáng như một mặt gương mà trong đó mọi vật đều soi tỏ một cách trung thực. Khi tư tưởng ngài trở nên lắng dịu, tinh khiếttrong sạch, không còn tham ái và ô nhiễm, dễ uốn nắngiác tỉnhvững chắc và không thể lay chuyển, ngài đã hướng tâm về sự hiểu biết những đời sống thời quá khứ (túc mạng minh). Ngày đã dần nhớ được kiếp thứ nhất, kiếp thứ hai, thứ ba rồi trăm kiếp ngàn kiếp cho đến vô lượng kiếp về trước mỗi mỗi ngài đều nhớ rõ, trong mỗi kiếp tên ngài là gì, cha mẹ ngài là ai, lối sống ngài thế nào và chết thế nào, rồi tái sanh như thế nào. Từ đó ngài biết rõ về sự tái sanh và các đời quá khứ.

 Vào canh một đêm giác ngộ sự hiểu biết về đời quá khứ của ngài hoàn toàn viên mãn tột cùng. Đây là sự chứng đắc thứ nhất: Túc Mạng Minh. Đã phá tan lớp vô minh có liên quan đến quá khứ. Ngài hướng tâm thanh tịnh về ‘sự tri giác hiện tượng Diệt và Sanh của chúng sanh’ (thiên nhãn minh) với tuệ nhãn tinh khiết và siêu phàm ngài đã nhận thấy chúng sanh chết từ kiếp này tái sanh vào một kiếp khác. Ngài chứng kiến cảnh tượng kẻ sang người hèn, kẻ đẹp người xấu, kẻ hạnh phúc người khổ đau, tất cả đều trải qua sanh và diệt, tuỳ hành vi tạo tác của mỗi người. Ngài biết rằng những người này do hành động lời nói và tư tưởng xấu xa nguyền rủa bậc thiện trí cao thượng, tin tưởng không chơn chánh và có nếp sống của người tà kiến, sau khi thể xác phân tán và sau khi chết, đã tái sanh vào những trạng thái bất hạnh. Ngài biết rằng những người kia, do hành động, lời nói và tư tưởng tốt đẹp, không nguyền rủa bậc thiện trí cao thượng, tin tưởng chơn chánh và có nếp sống của người có chánh kiến, sau khi thể xác phân tán và sau khi chết, đã tái sanh vào những cảnh trời an vui hạnh phúc.
Như vậy với thiên nhãn minh, ngài mục kích sự phân tán và sự cấu hợp trở lại của chúng sanh.

Đây, hẳn vậy, là tuệ giác thứ nhì mà ngài đã ngộ trong canh giữa đêm thành đạo.
Đã phá tan lớp vô minh có liên quan đến tương lai, ngài hướng tâm về thanh tịnh về ‘tuệ hiểu biết sự chấm dứt các pháp trầm luân’ (lậu tận minh).
Tuỳ trường hợp ngài nhận thức: ‘Đây là phiền não, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con đường dẫn đến chấm dứt phiền não’. Cùng một thế ấy, ngài nhận định: ‘Đây là ô nhiễm, đây là sự chấm dứt ô nhiễm, đây là con đường dẫn đến chấm dứt ô nhiễm’. Nhận thức như thế tâm ngài giải thoát khỏi dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), hữu lậu (ô nhiễm của sự luyến ái đời sống) và vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh).
Được giải thoát, ngài biết rằng: “ta đã được giải thoát“ và ngài nhận thức: “tái sanh đã chấm dứtđời sống phạm hạnh đã được viên mãn, đã làm xong những việc phải làm, không còn trở lại trạng thái này nữa“.

Đây là tuệ giác thứ ba mà ngài đã chứng ngộ trong canh ba, đêm thành đạo.
Màn vô minh đã được giải tỏa và trí tuệ phát sanh. Đêm tối đã tan và ánh sáng đến.
Từ đây trên thế giới đã có thêm một nhà hiền triết với trí tuệ siêu phàm bậc nhất, một thánh giả với khả năng cứu độ không ai hơn, một vị chiến thắng, một vị đáng để nhận đồ cúng dường, một vị mà mọi người nhìn lên với tất cả niềm tôn kính, một vị thầy của trời và người, một vị Phật.

 Sau khi chứng đạo: trong tuần lễ đầu sau khi thành đạo đức Phật đã ngồi bất động nơi Kim Cang toà, theo kinh điển đại thừa thì trong ba tuần lễ đầu ngài đã thuyết kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên và bồ tát ở các cõi trời nghe, nhưng vì kinh lý quá cao siêu khó người lãnh hội nên thế tôn đã chuẩn bị nhập niết bàn. Khi đó thì những vị đế thích đã hiện ra để cung thỉnh Phật trụ thế mà thuyết kinh vì hai nguyên nhânnguyên nhân thứ nhất vì các vị Phật thời quá khứ cũng dùng phương tiện chia thành nhiều cấp bậc giáo lý để giảng dạy, nguyên nhân thứ hai là để thực hiện lời nguyện độ sanh của ngài trước khi bước vào tu tập cũng như những lời hứa của ngài với vua Tần Bà Sa La và bao nhiêu người khác nữa. Đức Phật vì thế đã bằng lòng và bắt đầu thuyết những phép tu thuộc về tứ diệu đế (bốn chân lý tuyệt hảo)Ạ rồi sau mới dần giảng dạy những kinh điển có tính cách triết lý đại thừa cao hơn theo như bài kệ:

Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật
A Hàm thập nhịPhương Đẳng bát,
Nhị thập nhị niên bát nhã đàm,
Pháp HoaNiết Bàn cộng bát niên.

Đây là cách phân chia của ngài Thiên Thai thánh giả bên Trung Quốc. Nhưng trên thực tế thì kinh điển đức Phật đã thuyết ở nhiều nơi và nhiều đề tài khác nhau tuỳ theo trình độ của thính chúng. Về sau ngài A Nan mới hệ thống hoá thành những bộ kinh.

 Riêng về truyền thống của Nam Tông thì lấy năm bộ Nikaya làm gốc. Trong đó phần chính yếu nói về lý duyên khởi và những giáo lý nhân duyênẠ mà theo họ thì đức Phật đã nghiền ngẫm trong tuần lễ đầu sau khi giác ngộ.
Trong tuần lễ thứ hai đức Phật đã đứng cách cây bồ đề một khoảng xa để có thể nhìn cây một cách chăm chú biết ơn đã che chở cho ngài trong những ngày thiền định. Hàng phật tử ngày nay cũng đem lòng kính trọng cây bồ đề này vì chính nơi đó mà đức Phật ra đời. Cũng như trong kinh cũng ghi lại sự tích cây bồ đề A Nanđức Phật đã từng dạy có thể dùng những vật mà gợi nhớ đến Phật để tôn thờ cũng được phước báo lợi lạc, thì việc thờ cúng cây bồ đề cũng nằm trong ý nghĩa này.
Vào tuần thứ ba ngài đã đi kinh hành dọc theo bên trái cây bồ đề. Tương truyền rằng vì chư thiên thấy ngài không rời khỏi Bồ Đề Đạo Tràng nên đã hoang mang không biết ngài đã chứng ngộ chưa và vì để chư thiên hiểu rõ sở đắc của mình, ngài đã dùng thần lực tạo ra đường kinh hành bằng ngọc này.
Trong tuần thứ tư đức Phật đã suy gẫm về những vấn đề thuộc về siêu hình học của A Tỳ Đạt MaTruyền thuyết cho rằng khi ngài tư duy về những lý nhân quả tương duyên thì thân tâm ngài vô cùng tinh khiết và phóng ra những vùng hào quang quý báu vô cùng.

Tuần thứ năm ngài ngồi dưới cây Ajapala để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Khi ngài xuất định có một vị Bà La Môn ngã mạn đã hỏi ngài: “Này tôn giả Cồ Đàm, làm thế nào để trở thành một Phạm thiên và những điều kiện nào để trở thành phạm thiên?. Đức Phật đáp: “Người kia đã xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, không còn ngã mạn, đã thanh lọc mọi ô nhiễm, thu thúc lục cănthông suốt các pháp học và đã chơn chánh sống đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là thánh nhơn (phạm thiên). Đối với người ấy không còn có sự bồng bột, dầu ở nơi nào trên thế gian“
Từ cây Ajapala đức Phật đến bên cây Mucalinda để chứng nghiệm về hạnh phúc giải thoát. Khi đó trời bỗng mưa tầm tã. Con mãng xà vương Mucalinda liền bò lên và dùng thân quấn quanh đức Phật bảy vòng và dùng đầu để làm tàng che mưa đỡ gió cho ngài. 

 Vào tuần thứ bảy ngài ngụ tại cây Rajayatana để chứng nghiệm an lạc của quả vị giải thoát hoàn toàn. Sau khi nhận sự cúng dường của hai vị thương gia đức Phật đã rời khỏi Bồ Đề Đạo Tràng đi về thành Ba La Nại để tìm năm người đồng tu trước kia mà truyền đạt những gì ngài đã chứng ngộ.
Trong suốt thời gian đức Phật đi tìm giác ngộ thì tin tức về ngài cũng được liên tục đưa về cung thành Ca Tỳ La Vệ. Khi hay tin thái tử bỏ vương phục đổi lấy y vải thì nàng Da Du Đà La cũng như thế từ bỏ vương phục mặc chiếc áo bằng vải, khi thái tử tu tập khổ hạnh thì nàng cũng hành xác mình tương tự. Bao nhiêu vương tôn đến để dạm hỏi nàng nhưng nàng đều từ khước. Trước khi tin đức Phật giác ngộ truyền về đến Ca Tỳ La Vệ thì một tin khác về cái chết của ngài đã làm toàn thể kinh thành khóc than thương tiếcSự kiện này nói lên cái bản tánh của thái tử Sĩ Đạt Ta phải là một con người vô cùng đặc biệt trước khi ngài ra đi để có thể để lại bao nỗi nhớ nhung như thế cho mọi người. Là một con người đặc biệt nên khi chứng ngộ quả vị của ngài cũng là quả vị tột cùng, quả vị Phật.

Dữ kiện lịch sử của Bồ Đề Đạo Tràng.

 Người đến Bồ Đề Đạo Tràng để tỏ lòng tôn kính đầu tiên mà sách sử biết đến có lẽ là vua A Dục. Nhưng cũng chính vì vậy mà ngày nay có nhiều ý kiến về những tác phẩm của ngài tại đây. Khi A Dục vương đến đây chiêm bái thì ngài đã cho xây dựng những gì? Nhiều nhà học giả cho rằng chỉ có Kim Cương toà và một vài trụ đá là của chính vua A Dục xây dựng, còn những kiến trúc khác là tác phẩm của hậu nhân.

 Theo những nhà nghiên cứu thì có rất nhiều dữ kiện để suy luận, nhưng rốt cuộc đến nay vẫn chưa có một kết luận nào có thể gọi là chính xác 100% cả. Tuy nhiên vẫn có hai đường hướng kết luận được đưa ra, một là của ông Cunninghamvà một của ông Barua. Ông Cunningham thì cho rằng ngôi tháp hiện nay chúng ta thấy chính do vua A Dục xây dựng vào thế kỹ thứ III trước tây lịch. Trong khi ông Barua thì nghĩ rằng ngôi tháp hiện tại chỉ được xây dựng sau khi ngài Pháp Hiển đến thăm Bồ Đề Đạo Tràng và hoàn thành trước khi ngài Huyền Trang đến đấy. Tuy nhiên vẫn có một giả thuyết khác được xem như là đáng chú ý, đó là giả thuyết của ông R.L.Mitra. Ông Mitra nghĩ rằng theo những chữ khắc ở những nền tượng hay trụ đá cho ta thấy những văn hoá thời Gupta. Tuy nó không phải là một dẫn chứng cụ thể cho niên đại của ngôi tháp, nhưng nó vẫn tạo cho ta cái ấn tượng là tháp ấy phải đã hiện hữu từ thế kỹ thứ hai sau tây lịch, và như thế nếu ta tiếp tục kết luận thì ngôi tháp phải được xây dựng khoảng vào thế kỹ thứ nhất sau tây lịch. Vì vậy ông ta nghĩ rằng: “Chính nơi ngọn tháp ngày nay đứng, đã có một kiến trúc của A Dục vương xây nên, nhưng chắc chắn nó đã không phải là một ngôi tháp. Về sau không hiểu vì nguyên nhân nào nơi đó đã được nhường chỗ cho ngọn tháp [mà như ông đã kết luậnvào khoảng thế kỹ thứ nhất sau tây lịchϬ ông ta còn dựa theo một bức tượng Phật đã được tìm thấy trong một miếu nhỏ cửa thành nam của khu tháp. Tượng đá rất cũ và mang những chữ khắc bằng tiếng Phạn thời Gupta (thế kỹ thứ II sau tây lịch).

 Có rất nhiều lập luận được đưa ra đồng thời với những dẫn chứng để biện minh cho tư tưởng của mình về ngôi tháp này. Tuy đây không phải là một sách nghiên cứu lịch sử theo khuôn khổ khoa học, nhưng chúng tôi cũng xin đưa ra một số dữ kiện để quý đọc giả tham khảo.

 Bia ký thứ VIII của vua A Dục ghi rằng: “Trôi theo giòng thời gian, nhà vua đã làm một chuyến du hành để săn bắn cũng như thực hiện một số mục đích khác. Nhà vua Priyadarsin, người yêu dấu của chư thiên, đã khởi hành đến Sambodhi. Từ đó nó trở thành nơi chiêm bái của những người ngoan đạoDĩ nhiên lối văn thơ cổ Ấn Độ đã gây không ít bàn luận trong giới nghiên cứu vì đoạn khởi hành đến Sambodhi mang hai ý nghiã, một là nhà vua đi đến Bồ Đề Đạo Tràng để chiêm bái nơi đức Phật đã đạt được giác ngộ (Sambodhi), hai là nhà vua bắt đầu quá trình tu tập của mình hầu đạt được giác ngộ như Phật.

Theo một số lập luận thì vua A Dục đã cho xây một loại điện thờ dưới gốc cây bồ đề theo mô hình giống như nhà thuỷ tạ không có nóc. Có nghĩa là chỉ có những cột trụ vây quanh toà mà thôi. Theo sách ghi lại thì nhà vua đã cho làm một toà kim cang bằng đá, bên trên có khắc các hoa văn. Phía trước toà có bốn cây trụ dẹp, bên sau toà là cội bồ đề. Mỗi bên cội bồ đề đều có biểu tượng của tam bảo và bánh xe pháp trên hai cây cột ngắn. Hai bên kim cang toà lại có hai nhà thuỷ tạ tương tự như tại kim cang toà. Bên trên kim cang toà được ghi nhận rằng không hề có an trí tượng Phật bởi vua A Dục. Điện Kim Cang Toà nằm trong đền thờ chánh ngày nay. Nếu chúng ta tinh ý sẽ thấy những trụ đá gãy nơi những góc tường.
Ngoài ra những nhà khảo cổ đã đào được nơi nền của kim cang toà một cục đất nung trong đó có nhiều tiền vàng, đồ đất, đá v.v. tất cả đều là những y cứ để họ tìm hiểu thêm về niên đại của tháp. Nhưng không phải chỉ những khai quật tại trung tâm Bồ Đề Đạo Tràng đã làm những nhà khảo cổ lưu tâm mà ngay cả một tấm dĩa bằng đất đào được gần Patna, cũng như những mô hình đại tháp được đào lên tại Mrohoung và Bồ Đề Đạo Tràng cũng đã làm nhức óc các nhà nghiên cứu.

Cái dĩa bằng đất chôn sâu sáu inch dưới mặt đất gần Patna trình bày nhiều họa đồ, có ngôi tháp đại bồ đề tại trung tâm. Ngôi đền hình như có một vòm cong với một tượng Phật ngồi chính giũa. Hai bên là hai trụ đá tròn với ba đỉnh nhọn bên trên và những thiên thần bay lơ lững giữa không gian. Khung viên của điện được diễn tả trên tấm diã được bao bọc bởi một hàng rào đá vuông vức và một lối vào phía trước. Hai bên cửa vào là hai tượng người đứng phiá trong của chu vi điện thờ. Cả hai đều có một vòng hào quang giống hệt như của tượng ngồi bên trong điện. Bên trong khuôn viên của điện có một trụ đá vua A Dục đứng bên phải lối vào với tượng voi trên đầu trụ và những dòng chữ chạy dài theo chiều của cột..... Ngôi đền được bao bọc chung quanh bởi những ngôi đền khác, trong đó những sự kiện liên quan đến cuộc đời đức Phật và tiền thân của ngài được trình bày một cách mỹ thuật. Tất cả các ngôi đền đều có tường vây bằng đất hay đá... 

Hai mô hình đại tháp được tìm thấy rất giống đại tháp hiện nay nhưng lại không có bốn tháp nhỏ ở bốn góc tháp và hiện nay đang được tàng trữ tại viện bảo tàng Calcutta.

Để xác định niên đại của ngôi tháp những sử liệu của các nhà chiêm bái Trung Quốc cũng đã đóng góp không ít, nhất là hai cuốn ký sự của ngài Pháp Hiển và ngài Huyền Trang. Nhân đây chúng tôi cũng xin dịch lại để chư vị có thể tham tường.
Ngài Pháp Hiển đã ghi lại như sau: “Trong thành phố [Gaya] này mọi nơi đều điêu tàn và bỏ hoang như nhau. Từ đó đi về phía nam 20 lý chúng tôi đã đến nơi bồ tát khi còn sống đã thực hành sáu năm khổ hạnh. Nơi đây cây cối mọc um tùm. Từ nơi này đi về phía tây ba lý là đến nơi đức Phật đã bước xuống nước để tắm và phạm thiên đã oằn nhánh cây xuống để ngài vịn vào đó mà leo lên. Đi về phía bắc thêm hai dặm nữa chúng ta sẽ đến nơi mà cô bé quê đã dâng cho ngài bát cháo sữa. Đi thêm hai lý nữa về phiá bắc là tảng đá nơi đức Phật ngồi tựa vào gốc cây nhìn về hướng đông để dùng bát cháo sữa. Gốc cây và tảng đá ngày nay vẫn còn. Tảng đá có diện tích khoảng sáu chân độ vuông (feet) và cao hai chân độ. Ở trung Ấn nóng và lạnh tương đối đều nhau nên thực vật có thể sống đến cả mấy ngàn năm, và một số có thể sống cả mười ngàn năm. Từ đây đi về phía đông bắc nửa Yojana chúng tôi đến một hang đá, trong đó ngài đã ngồi kiết già nhìn về hướng tây và tự nhủ rằng: ‘Nếu đã đến thời tôi đạt được giác ngộ, thì hãy hiển lộ một vài uy lực của tâm linh’. Lập tức ngay trên bức tường đá hiện lên bóng của đức Phật, dài độ ba feet. Cái bóng này vẫn còn thấy rõ. Khi đó tất cả cõi trời và quả đất rung động chư thiên trên không trung đã gọi to rằng: ‘Đây không phải là nơi mà một vị Phật (quá khứ và tương lai) chứng đắc giác ngộ; Không tới nửa Yojana về phía tây nam phía bên dưới cây Pei-to chính là nơi mà chư Phật (quá khứ và tương lai) đến địa vị giải thoát.’ Khi chư thiên đã nói những lời trên liền hiện ra trước ngài, vừa đi vừa ca muá để dẫn ngài đến nơi mà họ đã đề nghị. Bồ tát đã đứng dậy và đi theo họ. Còn cách gốc cây độ ba mươi bước phạm thiên đã giao cho ngài nắm cỏ Kusa. Bồ tát nhận nắm cỏ đi mười lăm bước thì 500 con chim xanh bay về hướng ngài, sau khi bay nhiễu quanh ngài ba vòng liền bay đi. Bồ tát đã đi đến dưới gốc bồ đề trải nắm cỏ kiết tường và ngồi quay về phía đông. Khi đó chúa loài quỷ, Mara, đã khiến ba cô thiếu nữ mỹ miều từ phương bắc đến để dụ dỗ ngài, trong khi Mara thân hành đến từ phía nam. Khi đó bồ tát đưa một ngón chân chạm vào đất cả quân đội của Mara đều khiếp đảm và ba cô gái trở nên xấu xí như mấy bà phù thuỷ. Tất cả những nơi đã nêu trên, như nơi ngài tu khổ hạnh sáu năm, và những nơi khác đều có xây đài để kỷ niệm và đặt trong đó những tượng Phật mà ngày nay vẫn còn. Sau khi ngài đã giác ngộđức Phật ngồi bất động bảy ngày dưới gốc cây để hưởng an lạc của vị giải thoát; Nơi đây người ta đã dựng một ngọn tháp, cũng như ở những nơi ngài đã đi kinh hành dưới bóng cây bồ đề bảy ngày từ hướng đông về hướng tây....

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

 

Lộc Uyển [Sarnath]

Trời tiết đông bắt đầu trở lạnh vào tháng mười một, mười hai và tháng một. Cái lạnh căm căm làm buốt da, tê rét mọi người dù cho họ cố ủ mình trong những chiếc khăn choàng dày cộm. Mùa đông ở đây là vậy, đến nhẹ nhàng tĩnh lặng và từ tốn mỗi năm như cái từ tốn đến lạ lùng của những người dân Ấn. Sau tháng nóng bức đến lột da thì mùa đông đến với những làn gió mát và từ từ chỉ sau một vài tuần lễ đã chuyển sang rét mướt.
Chúng tôi những người từ Châu âu đến mà cũng cảm thấy tê tái mặc dù đang mang những chiếc áo lạnh miền xứ tuyết. Thời tiết ở vùng này thật khắc nghiệt vì cái nóng muà hè ở đây không thể mà tả hết. Mới tháng sáu tháng bảy đây cái nóng hầm hập lên đến 50 độ thiêu rụi mọi cây trái cảnh vật trong vùng, vậy mà chỉ một vài tháng sau thời tiết đã trở nên lạnh lẽo khó chịu và cái lạnh ở đây có khi đến năm bảy độ về đêm.

Tội nghiệp các em bé nhỏ trong những gia đình nghèo nát tả tơi đang run mình trong những chiếc chăn đen đầy bụi bám; tội nghiệp những người phu khuân vác, người thợ đạp xích lô vì họ là những người bất chấp cái khó của cuộc đời cố xâm mình bươn chải vào cái lạnh cái nóng để nhọc nhằn kiếm được những đồng xu trong ngày hầu che chở cho gia đình. Cái khổ đau lam lũ chồng chất của kiếp người như bày ra trọn vẹn ở nơi họ và nơi cuộc sống của chính họ. Quanh năm suốt tháng quần quật mà được gì đâu ngoài những đồng xu kiếm được vừa đủ mua một vài bó rau, ký gạo. Rồi những nơi họ ở thường vỏn vẹn đơn sơ như chính cuộc đời của họ; một mái nhà tranh dựng nghiên nghiên trên bốn bờ tường đất sét, một hai cái giường bằng dây thừng bện lại, một lu nước và một vài con bò con. Căn chòi tranh bé nhỏ ấy lại phải bao trọn cả gia đình năm bảy người và đôi khi cũng phải dành chỗ cho những chú bò, chú bê con chung sống. 
Vậy đó cái cuộc sống của người dân ở đây đa phần là vậy. Nhưng trong một hoàn cảnh sống như thế, có lẽ người ta cũng tìm đâu ra chút hạnh phúclạc thú của cuộc đời để tiếp tục vươn lên mà sống. Hoặc giả chăng trong một đời sống bần cùng đến độ đó, họ tìm thấy một chút tình bé bỏng nơi các con vật trong nhà, trong vườn dù là một con bò hay con bê nhỏ. Có lẽ do đó mà tôi thấy người dân Ấn rất thích và thân thiện với các loài vật. Người và vật thắm thiết với nhau lắm nhất là với những người dân quê. Các con vật ấy là bạn, là ân nhân của mọi người: nó giúp người cày cấy, cho sửa để nuôi sống cả gia đình, cho phân để đốt lò thế củi, cho niềm vui bạn hữu với con ngườiBản tính của người Ấn thường yêu chuộng loài vật, không thích sát hại nên ở đây các loài vật bạo dạn hơn nơi nào khác trên thế giới.

Tôi nhớ có một thời sống ở tại New Delhi trong một ngôi nhà trọ. Nhà tôi ở lầu trên và có một mái hiên vừa tạm đủ cho chỗ hóng mát. Thế mà mấy con chim sẽ ở đâu không biết cứ bay đến làm tổ và xả rác rơm bừa bãi. Không chịu được cái cảnh tượng mới sạch lại dơ nên chúng tôi đem tổ chim bỏ vào sọt rác, vậy mà thoáng chốc cái tổ ấy lại được hình thành nơi chỗ cũ. Có lúc lại có cả những con chim bay vào trong phòng chúng tôi để làm tổ nữa. Thật là bạo dạn và lì lợm như vậy là cùng. 
Sau một thời gian ở Bồ Đề Đạo Tràngchúng tôi chuẩn bị lên đường đi Ba La Nại để viếng thăm vườn Lộc Uyển. Dõi theo bước chân Phật khi xưa để tìm lại một chút gì hương vị, thanh âm của bậc giác ngộ. Là những người con Phật, chúng tôi cố gắng noi theo gương những gì ngài đã làm và đã sống nhưng quả thật là khó. Một khoảng thời gian dài xa cách đã đưa chúng tôi đi xa dần con đường thánh thiện của các bậc hiền thánh thuở trước; và nay nếu có chúng tôi chỉ đang có thể bắt đầu lần theo bước chân người để tưởng nhớ, ghi tạc lại những hạnh lành của các ngài thuở ấy mà cố noi theo.

Xe buýt chạy hướng về thành phố Ba La Nại, chạy suốt và lâu lắm mới có một chặng dừng cho mọi người xuống làm vệ sinh cá nhân. Nhu cầu giải quyết vệ sinh ở đây thật đơn giảnbình dị (nghĩa là ngồi bên lề đường, cạnh xe hoặc núp sau một gốc cây nào đó) đến nổi lúc đầu mọi người còn e ngại mắc cở nhưng sau một thời gian ở Ấn Độ nó đã trở thành chuyện tất nhiên, phải vậy. Chúng tôi thì chẳng lạ gì nhưng mỗi lần có dịp đi chung với mọi người trong đoàn thì lúc ấy là một dịp sôi động bàn cãi. Có đủ chuyện để bàn ra tán vào cho được, có người thích, có người không, có người muốn có kẻ thẹn thùng và lại có những người tinh quái đem máy hình xuống chụp quang cảnh đi vệ sinh độc đáo này nữa. Quả là có chuyện vui và khôi hài để nói.

Tôi thích cảnh đồng quê này lạ: sao giống cảnh quê hương Việt Nam tôi. Cũng những đồng lúa bạt ngàn chạy suốt theo những con đường quê ngoằn nghèo xập xũng. Cũng những hàng dừa xanh, những ngôi nhà đất và những mái rơm gập ghềnh xiêu vẹo. Rồi một cảnh cày ruộng nào đó có con trâu con bò bước song song cày chung với nhau. Tôi không rõ cảnh này có ở quê mình không, chỉ biết thầy bổn sư của tôi thì cho đó là chuyện lạ chỉ xứ Ấn Độ này mới có. Còn những con đường quê ở Ấn Độ thì đẹp và nên thơ chi lạ vì hai bên đường lúc nào cũng có những tàng cây to che bóng. Đôi khi ở một vài nơi tôi còn thấy những hàng phượng vĩ phơi tàng đỏ ối và rơi vãi trên đất những cánh hoa màu ướm sắc. Cây cối tỏa ra một màu xanh tươi, che mát cả một đoạn đường dài và thường thì được trồng thẳng tắp chạy dọc mãi theo hai bên đường trông dường như vô tận

Trồng cây dĩ nhiên là một việc làm rất tốn kém vì phải được chăm sóc coi ngó khi còn nhỏ, ngoài ra người ta còn phải cho xây chung quanh những rào cản bằng gạch che đậy lên cao cả một mét. Đôi lúc thấy những hàng rào cản này chạy dài cả một đoạn đường mà tôi khâm phục cho chính phủ và người dân ở đây biết cách bảo vệ môi trường. Quê hương Việt Nam tôi thì ít có sự hiểu biết và ý thức về cây trồng nên thường khi phá phách nhiều mà quên gây trồng thêm. Nhớ có lần về vào dịp tết tôi thấy người ta thi nhau bức cây bẻ cành để hái lộc vào dịp tết, thấy cảnh cây trái xác xơ vứt bỏ lung tung mà tôi cảm thấy đau lòng. Mong có một ngày nào đó về lại quê hương và khi điều kiện cho phép tôi cũng muốn lập ra những tổ chức hổ trợ trồng cây rừng để đất nước ngày càng xanh tươi và đẹp thêm hơn.
Có lẽ đoạn đường gần đến Ba La Nại là đoạn đường thường bị kẹt xe nhiều nhất. Xe từng đoàn, từng đoàn nối tiếp nhau dường như vô tận. Gần như chẳng có xe nào khác hơn là những chiếc xe vận tải ù lì thô tháo. Và hình như chẳng có loại xe nào khác hơn là hai loại xe quen thuộc do Ấn Độ chế tạo: Tata và Ashok Leyland. Đã mấy năm rồi sống ở đây tôi gần như chẳng thấy một chiếc xe vận tải nào mang nhãn hiệu ngoại quốc. Người Ấn bảo thủ và chỉ dùng đồ chế tạo từ nước mình, tôi nghĩ đâu đó cũng là một cách hay để tự cường mà khỏi phải lệ thuộc vào hàng hóa nước ngoài nhập vào. Việt Nam ta thì lại khác vì chỉ thích dùng và nhập cảng hàng từ nước ngoài mà không chú trọng đến hàng hóa phẩm chất của nước mình để đến nổi khi ai nghe nhắc đến sản phẩm Việt Nam cũng đều lắc đầu thối thác. Biết đến bao giờ dân tôi và nước tôi mới có được một tinh thần dân tộc và tự cường như Ấn Độ này đây.

Người ta thường bực mình vì nổi kẹt xe ở Paris, London hay Hamburg nhưng nếu đem so với nổi kẹt xe ở một vài đoạn đường tại Ấn thì có thể người ta sẽ dễ mỉm cười chấp nhận. Mà không cười sao được khi sống trên một đất nước mà ai nấy đều cười, cười một cách thoải mái và hồn nhiên và chúng ta nếu nhăn mặt đáp lại thì có lẽ thật là quái gỡ. Có thể nói họ cười dễ dàng trong mọi trường hợp dù rằng đôi khi chuyện đó chẳng đáng cười. Tôi không hiểu có phải họ học cười ngay từ khi mới sinh ra hay là cái cười đã tự có sẳn trong mái huyết của họ. Nhiều người Âu mỹ thắc mắc nói chuyện với tôi như vậy. Cười không là một điều khó đối với con người thế nhưng con người ta ở những xứ Tây phương dường như không thể cười được mỗi lúc gặp mặt nhau nên do vậy mà họ thường đến Á đông để tìm thấy một nụ cười, một vẻ mặt thanh thản. Và có lẽ một phần là do ở những nụ cười thoải mái và hồn nhiên này mà Ấn Độ có sức thu hút hàng mấy mươi triệu du khách đến đây mỗi năm?

Chúng tôi may chưa từng bị những buổi kẹt xe không tiền khoáng hậu đó mà chỉ thấy trên đường, chỉ biết người khác bị. Lạ lùng là thường những vụ kẹt xe như vậy duyên cớ chẳng đáng ra gì, hoặc do trạm thuế làm việc nửa vời nửa ghi chép tính thuế, nửa uống trà sửa tán dóc chuyện cà kê hoặc bỏ đi chơi nghỉ mát cho khỏe một chút. Lại đôi khi kẹt xe do vì một vài người tài xế không chịu nhường nhau, tới không được lui cũng không xong thế là hai bên xuống đất cãi nhau rồi chờ cho đến khi bên kia nhường mình. Lại cũng có đôi lúc một vài chiếc xe chương chướng đậu ngang xương giữa đường rồi bác tài đi chơi hoặc vào nhà trọ nào đó ngủ nghĩ làm cho một vài trăm chiếc xe sau sắp hàng chờ đợi. Vậy mà các bác tài xế ở những dãy xe sau cũng chẳng nôn chi, chờ thì chờ bực bội chi cho mệt và rồi họ bèn lấy nồi niêu soong chảo ra nấu nướng, thậm chí tắm giặt ở giữa đường cho vui: một số các bác tài khác thì sẳn trong buồng lái có chiếc ghế dài, phách mình ra ngủ mặc cho trời đất xoay quanh đêm ngày ra sao thì ra. Chừng vài chục bác tài như trên và cách làm việc kiểu đó của các nhân viên phòng thuế thì kẹt xe ít cũng dài ra vài mươi cây số, tốn khoảng vài mười phút giải quyết thì kéo dài ra khoảng vài mươi giờ. 
Gặp những trường hợp như vậy nếu gặp anh tài lanh lẹ thì anh có thể cho xe lách mé đường lết lết mà đi (chẳng kể luật lệ nào cả và hình như ở Ấn không có một luật lệ nhất định thì phải), vậy mà cũng qua mặt hàng trăm chiếc xe chứ! Đôi lúc men sát lề mương xe nghiêng nghiêng như muốn lật. Năm vừa rồi đi cùng phái đoàn ai nấy đều trải qua một phen hoảng vía như vậy. Và thường thì qua cơn hốt hoảng ai ai cũng một mực khen anh tài là giỏi và hứa sẽ cho anh nhiều tiền khi xong cuộc hành trình. Riêng chúng tôi nghĩ không biết mấy anh tài người Ấn này có muốn biểu diễn tài năng lái xe nguy hiểm của mình trước bà con để được thêm tiền không? Dám lắm chứ, ở Ấn điều gì cũng có thể xảy ra được kia mà.

Ba La Nại [Varanasi ]

Ba La Nại "thành phố vĩnh cửu" là một trong những thành phố lớn của tiểu bang Uttar Pradesh thuộc miền trung bắc Ấn Độ với số dân hơn một triệu người. Thành phố này cũng nổi tiếng vì nền văn minh tâm linh của vùng này đã siêu suốt hơn 2000 năm qua trong tính cách thiêng liêng của những đền thờ Ấn giáo nguy nga đồ sộ, của con sông Hằng thần bí ngày đêm tuôn chảy mang nước thiêng đến cho khắp mọi người tắm gội tìm ân phước. Với người dân Ấn thì đây là một nơi lý tưởng cho sự ra đi vào lúc cuối cuộc đời, nơi này là nấc thang, là cửa ngỏ duy nhất để được thác sinh lên cõi trời. Ngày nay nơi đây cũng là một trung tâm nghiên cứu tu học tốt về các loại cổ ngữPhạn ngữ, Hindi v.v... Thành phố này cũng quan trọng không kém vì vai trò lịch sử của nó dính liền với với việc hình thành và phát triển một tôn giáo mà sau hai mươi thập kỷ đã có mặt khắp nơi trên thế giới.

Vết lăn đầu của bánh xe pháp.
Sau khi đức Thế tôn giác ngộ dưới cội bồ đề, bằng tuệ nhãn thuần tịnh ngài quán sát đến những người đáng được độ để đi cứu độ họ. Nhớ đến đạo sĩ Alara Kalama một bậc hiền trí khi xưa dạy đạo ngài lúc ban đầu, ngài tính đi đến độ họ nhưng lại quán sát thấy Alara Kalama mất bảy ngày trước đó và đã thác sanh về cõi trời phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi đức Thế tôn quán đến ngài Uddaka và bậc hiền trí ấy cũng mất trước đó. Ôi! thật là không may cho họ vì họ đã mất và sẽ sinh về các cõi trời để hưởng phước báu. Một ngày kia họ sẽ rơi đọa vào lại các cõi trong tam đồ ác đạoHình ảnh của những người từng có nhân duyên với ngài lần lượt hiện lên và sau cùng ngài quán đến năm người bạn đạo thuở xưa, những người đồng tu khổ hạnh đã giúp đỡ ngài nhiều trên con đường đạt đến tri kiến, và thấy rằng họ hiện vẫn còn sống và đang ở tại Lộc Uyển thuộc thành phố Ba La Nại.
Hướng về Ba La Nại ngài ra đi. Ngày lại ngày trôi qua, buổi trưa ngài đi vào xóm khất thực và những buổi tọa thiền sau đó ngài quán sát thế gian, rải tâm từ bi đến mọi loài trước khi tìm nhân duyên cứu độ họ. Một hôm trên đường tình cờ ngài gặp một ẩn sĩ khổ hạnh tên là Upaka, ông ta khi thấy ngài đầy đủ những tướng hảo trang nghiêm bèn nói những lời tán thán như vầy
Này bạn hữu, da của người thật là tốt đẹp và sáng lạng, hiện bạn đang tu pháp môn gì? Thầy của bạn hữu là ai?

Đáp lại đức Phật nói lên một bài kệ:

Ta là người vượt qua tất cả, thông suốt các pháp.
Đã dứt bỏ mọi phiền não trói buộc.
Người thoát ly bỏ lại tất cả sau lưng.
Ta không thầy, tự tri giác ngộ biết khắp cả.

Thấu suốt hết mọi pháp, ai là thầy của ta.
Ngoài ta không thể tìm thấy trên thế gian này.
Các hàng trời người khắp trong ba cõi.
Cũng không thể sánh được với ta, đấng Như lai.

Ta là vị A La Hán trên thế gian này.
Là bậc thầy, trên tất cả các bậc thầy.
Chỉ có ta người giác ngộ viên mãn.
Đoạn diệt hết phiền nãođạt đến Niết bàn.

Chuyển giáo pháp độ chúng sinh,
Ta giờ đây đến thành Ba La Nại.
Giữa thế gian si mê mờ tối,
Ta sẽ gióng lên hồi trống Vô sanh bất diệt.

 Upaka lúc ấy hỏi lại rằng: Này bạn hữu, phải chăng người tự nhận là A La Hán, bậc siêu xuất đã tận diệt mọi phiền nãoĐức Phật ôn tồn đáp kệ rằng: 

Ta bậc siêu xuất hơn cả
Đã diệt hết mọi phiền não.
Chinh phục mọi xấu xa tội lỗi.
Này Upaka, ta là bậc chiến thắng.

 Tuy nghe đức Phật nói như vậy nhưng nhà khổ hạnh Upaka không mấy tin tưởng lời ngài vì ông cho rằng không thể có con đường dẫn đến tri kiếnđoạn diệt phiền não mà không đi theo phương pháp ép xác khổ hạnh. Nghĩ thế nên Upaka đáp lại lời Phật rằng: Bạn hữu có thể đạt được tất cả những điều như vậy chăng? Rồi xây lưng rẻ sang một con đường nhỏ khác bỏ đi.

 Đức Phật bình thản và tiếp tục cuộc hành trình. Những khó khăn và mê tối của con người khó độ lúc ban đầu không làm ngài phải chán nản thất vọngChúng sanh là vậy; có kẻ trí người mê, kẻ chấp trước tà kiến người tịnh tín có trí tuệ hoặc sẽ có những người khi trông thấy ta, nghe ta giảng liền đắc pháp nhãn, thoát ly sanh tử và có người khi thấy ta sinh ưu phiền ngoảnh mặt làm ngơ thậm chí chưởi mắng ta. Quán sát biết các pháp là như vậy, đức Phật mỉm một nụ cười và thanh thản nhẹ bước mà đi.

Một ngày kia ngài đi đến Lộc Uyển. ở đây lúc bấy giờ là một vùng hoang sơ nơi chỉ có các bậc thánh nhân tìm đến tu tập và chia sẽ tri kiến giác ngộ với nhau. Đó đây những bụi cây gai góc hoang dại và xa kia là những mỏm đá cheo leo của một vài sườn núi bị thời gian sói mòn đổ vụn. Một vài tháp đá kỷ niệm nơi các bậc thánh xưa kia tu tập vẫn còn đó và có nơi chỉ còn lại những chiếc nền hoang vắng. Những khu rừng cây xa xa thường là nơi vui đùa của bầy nai tơ hiền lành ngơ ngác. Nai chạy nhảy biến hiện ở khắp mọi nơi và đôi khi dạn dĩ đến bên những ẩn sĩ gầy đét nhìn ngó như lạ lùng kinh ngạcCảnh giới thanh tao nhàn hạ của muôn thú và cảnh nặng nề bi thảm của các pháp tu ép xác luyện tâm của những người ẩn sĩ đi cầu giải thoát quả là một hình ảnh thần kỳ làm sao. Con người trong cảnh trạng ấy quả là một linh vật phi thường biết sống có ý nghĩa giữa thiên nhiên và muôn thú vô tư lự bao la đầy màu sắc.

Trong khu Lộc Uyển xinh đẹp ấy, lúc bấy giờ năm người bạn đồng tu của đức Phật vẫn một lòng đi theo con đường thuở trước bằng cách ép xác luyện mình đến hồi tàn tạ. Thân thể họ chỉ còn lấy da bọc xươngtuy nhiên ý chí mong cầu giải thoát của những người đi tầm chân lý vẫn không lay chuyển. Trước đây tại Bồ Đề Đạo Tràng khi thấy Tất Đạt Đa từ bỏ con đường diệt dục bằng cách ép xác khổ hạnh, họ cho rằng ngài đã thối thất bỏ tu và tìm về dục lạc nên bỏ ngài ra đi rồi tìm về Lộc Uyển cùng chúng bạn khác đồng tu ở đây. 

Sáng hôm ấy khi thấy đức Phật từ đàng xa đi lại, năm vị ẩn sĩ này bàn tính quyết định không đảnh lễ ngài, không tỏ lòng tôn kính như xưa. “Này các bạn, đạo sĩ Cồ đàm đang đi đến chúng ta đó. Hãy đừng nên đảnh lễcung kính và hầu hạ ông ấy như xưa. Đừng trải chỗ cho Cồ đàm ngồi, đừng đỡ bát và y cho ông ấy và khi ông ấy đến muốn ngồi thì cứ ngồi, chúng ta đừng nên quan tâmCồ đàm là một người nhu nhược, không bền chí, không gắng công tu tập và đã trở lại với đời sống xa hoa ô nhiễm. Ông ấy thật chẳng đáng cho ta niềm nở và tôn kính”.
Vậy mà khi đức Phật đến gầntướng hảo quang minh và phong thái của ngài đã làm cho năm đạo sĩ này bỗng trở nên lúng túngBị cảm hóa và thu phục ngay từ phút giây ấy, họ quên mất những lời dặn dò nhau khi trước mà lại kẻ đem nước đến cho ngài rửa chơn, người đến cầm đở giúp những y áo và bình bát cho ngài. Những người kia lại quét dọn nơi chốn và trải y cụ thỉnh ngài ngồi. Tuy nhiên chưa hiểu rõ được hết câu chuyện, họ vẫn gọi ngài là đạo hữu và chê trách việc từ khước lối sống khổ hạnh khi trước của ngài.

Đức Phật lúc ấy mới ôn tồn kể lại cho họ nghe câu chuyện của ngài kể từ khi ngài nhận chân ra con đường trung đạo và quyết tâm lìa bỏ những kiến chấp sai lạc thuở trướcCon đường trung đạo ấy là con đường xa lìa những kiến chấp cực đoan thường dẫn đến những khổ đau và hủy diệt. Ngài cũng trình bày cho họ biết là ngài không trở lại đời sống lợi dưỡng và xa hoa; ngài đã không ngừng dụng công tu tập và thiền định sau khi rời bỏ đời sống khổ hạnh và cuối cùng sau những chiến đấu cam go với Ma vương dưới gốc cây Bồ Đề ngài đã giác ngộ hoàn toàn, chứng được quả Phật. 
Đức Phật từ đó cũng nói những người bạn đồng tu rằng từ đây đừng gọi ngài bằng tên hay bằng danh từ bạn hữu vì ngài hiện đã là một vị Phật, một đấng toàn giác. “Này các thầy, do sự nỗ lực không ngừng mà ta giờ đây đã giác ngộthành đạo vô sanh bất diệt và hôm nay vì lợi ích của các thầy, ta sẽ giảng nói giáo pháp ấy cho các thầy nghe. Nếu các thầy thực hành đúng theo lời dạy đó, các thầy cũng sẽ sớm được chứng ngộ, có được tuệ giác và dứt bỏ hẳn con đường sinh tử.
Năm đạo sĩ khi ấy chẳng tin lời Phật, họ cùng nhau đồng nói: “Này đạo sĩ Cồ đàm, trước kia người từng sống khắc khổ, nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu hành mà còn chưa đạt được trí tuệ siêu thoát nào; thì làm sao khi người trở về đời sống xa hoa lợi dưỡng lại có thể đạt được trí tuệ siêu phàmchứng ngộ quả vị Phật”.

 Một lần nữa đức Phật lại nói rằng, ngài không hề sống xa hoa trở về với lợi dưỡng mà luôn luôn dụng công tinh cần tu tập và đã đạt được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sau khi thiền tọa dưới cội cây bồ đề. Cả ba lần họ đều từ chối không tin ngài nhưng thấy sự xác quyết nhiều lần của đức Phật, họ cũng tin theo và xin ngài giảng pháp cho họ nghe.

Cách đó không xa là nơi chư Phật trong nhiều đời trước thường chuyển bánh xe pháp và độ cho những người đệ tử ban đầu. Nương theo truyền thống của chư Phật từ ngàn xưa, đức Phật cũng đến nơi ấy và đi kinh hành chung quanh ba lượt. Lúc ấy trên hư không muôn ngàn tiếng nhạc trời trổi dậy và các loại hương, loại hoa Chiên ĐànMạn Thù Sa đồng rơi xuống cúng dường ngài. Trong hư không cũng có một ngàn pháp tòa xuất hiện chiếu đầy màu sắc khắp cả không gian

 Khi đức Phật cất tiếng thuyết giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân thì lúc ấy hào quang và ánh sáng quanh mình ngài bỗng chói chang chiếu ra muôn ngàn tia màu sắc, cùng lúc ấy cả thảy ba ngàn thế giới đều rúng động. Chư thiên từ các cõi trời giáng xuống và trải thêm đầy các loài hoa quý cúng dường ngài. Mọi loài trong chúng sanh giới lúc ấy cũng cất tiếng cầu thỉnh ngài chuyển pháp. Pháp âm vừa xong, người trưởng thượng trong năm người là ngài A Nhã Kiều Trần Như liền đắc
thánh quả A La HánMột lần nữa đức Phật thuyết lại bài kinh Chuyển Pháp Luân này và tánh chất vô thường của vạn pháp,
lần này bốn người bạn khác của ngài đồng chứng quả A La HánẠ.
Mở đầu bài pháp này đức Phật nói đến con đường tu Trung Đạo xa lìa các kiến chấp cực đoan bằng lời mở đầu như sau: 
Này các Tỳ kheo có hai điều thái quá mà người tu không nên theo. Thế nào là hai. Một là mê đắm dục lạc, đó là thấp hènphàm tục, không xứng phẩm hạnh của bậc thánh nhơn và vô ích. Hai là tu khổ hạnh, đó là khổ đau, không xứng phẩm hạnh của bậc thánh nhơn và vô ích. Này các Tỳ kheo chính là nhờ từ bỏ hai điều thái quá này mà Như Lai giác ngộ con đường Trung Đạocon đường đem đến pháp nhãntrí tuệ, đem lại an tịnh, thượng trí và giác ngộ Niết bàn”. 

 Đức Phật kế đó giảng giải bài kinh và được tóm tắt lại như sau:
I. Chân lý về khổ. (Khổ đế). Ngài nói lên đầy đủ các sự khổ não của thế gian mà phàm phu do vì si mê không thể thấy được, đó là: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ, sống chung với người mình không ưa là khổ, xa lìa những người thân yêu là khổ, mong muốn không được là khổ và năm uẩn không thường là khổ. 

II. Chân lý về các nguyên nhân của khổ. (Tập đế). Đề cập đến những nguyên nhân gây khổ đau đức Phật nhấn mạnh đến ái dục, vì ái dẫn đến sự tái sanh, ái làm đau khổ vì tâm tha thiết khao khát, bám víu các trần cảnh trong cuộc sống. Chính ái dục kéo theo nhục dục của ngũ trần, ái kéo theo các sự sinh tồn, sanh ái, luyến ái trong tư tưởng, hành động lầm lạc cho rằng thế gian là trường cữu vĩnh cữu. Và cũng chính ái kéo theo các ý tưởng không sinh tồn, đoạn diệt vì lầm lạc cho rằng sau khi chết là hết, là hư vô

III. Chân lý về các trạng thái hỷ lạc sau khi dập tắt ái dục. (Diệt đế). Tại đây đức Phật đã miêu tả một cách chi tiết các cảnh giới an tịnh hay con gọi là Niết bàn, một trạng thái vắng lặng các ái dục và phiền nãoPhiền não do ái dục sinh và khi ái dục đã hết thì phiền não cũng không còn. Trong các trạng thái hỷ lạc này đức Phật nói đến các quả chứng ngộ mà nơi đó hỷ lạc và an tịnh phát sinh. 
1. Tu Đà Hoàn, một trạng thái chứng ngộ sơ quả, đã hết mê lầm nhưng còn chấp ngã nên phải trở lại dục giới nhiều nhất là 7 lần để thành tựu quả A La Hán
2. Tư Đà Hàm, chứng bực cao hơn Tu Đà Hoàn và phải một phen trở lại sanh tử sau mới dứt hẳn. 
3. A Na Hàm, đã dứt hẳn mê lầm, hết phải tái sanh trở lại
4. A La Hánquả vị cao nhất, có đầy đủ phước đức trí tuệ và hết phiền não sanh tử luân hồi.

IV. Chân lý về các pháp tu đưa đến sự hỷ lạcan tịnh. (Đạo đế). Đức Phật trình bày thứ lớp các con đường tu để dập tắt các nguyên nhân của khổ đau. Các pháp đó là, A) Tứ Niệm XứẠ, B) Tứ Chánh CầnẠ, C) Tứ Như Ý TúcẠ, D) Ngũ CănẠ, E) Ngũ LựcẠ, F) Thất Bồ Đề PhầnẠ và G) Bát Chánh ĐạoẠ.

 Sau khi đức Phật độ xong năm người bạn đạo, ngài cùng đi với họ đến bờ sông Naci. Lúc ấy trời sập tối và có một người Bà La Môn trẻ tuổi tên Yasa đến bờ sông để cầu nguyện
Yasa nguyên là một con trai cưng trong một gia đình trưởng giả giàu có ở Ba La Nại. Anh sống trong sự huy hoàng giàu sang nhưng vẫn không cảm thấy được hạnh phúcÝ chí tìm cầu một đời sống nội tâm luôn luôn thao thức trong anh và anh vẫn chưa tìm ra được một lối thoát. Nổi khao khát tìm đạo trong anh bỗng bừng cháy khi một hôm thức dậy vào buổi tối, anh trông thấy những nàng hầu nằm vất vưởng ngủ quanh phòng và nơi khóe miệng họ nước dãi chảy đầy ô uế, cảm thấy xót xa, xúc động và bức rức anh đi lang thang trên những con đường phố hướng dần ra bờ sông.
Khi đến bờ sông và trông thấy đức Thế Tôn đứng bên kia bờ anh ta xúc động òa lên khóc và cất tiếng than van rằng: Ngài ôi! con thấy khốn khổ và đọa đày quá. Con không tìm ra được một con đường an tịnh cho chính con. Xin ngài hãy giúp đỡ và cứu độ con. Đức Phật chậm rãi nói giọng từ hòa rằng: Này đạo hữu, nơi đây không có sự khốn khổ và không có sự đọa đàyĐạo hữu hãy đến và ngồi đây, Như Lai sẽ giảng giáo pháp cho ngươi nghe. Nghe xong Yasa quá đổi vui mừng bèn vứt bỏ đôi dép trên bờ sang sông để gặp đức Phật

Tại đây đức Phật giảng giải Phật pháp cho Yasa nghe, ngài trình bày những nổi khổ đau của cuộc đời, nơi đó thật không có một hạnh phúc thật sự, tất cả đều chỉ là huyển ảo, tạm bợ và đem lại cho con người nhiều bất mãn. “Hạnh phúc thật sự không thể có được nơi những tài sảndanh vọng hay quyền lực thế gianvậy mà chúng sanh lại đắm say vào các thứ này để từ đó tạo ra vô số các ác nghiệp. Họ theo đuổi hạnh phúc trong ái ân nhục dục và cho rằng đây là hạnh phúc bậc nhất nhưng đáng thương thay đâu là hạnh phúc thật sự khi tất cả chỉ là một sự thỏa mãn ước vọng nhất thời do tác động bởi ngã và vô minh si ám. Chỉ có hạnh phúc chân thật và cao thượng hơn hết là hạnh phúc của sự vươn mình vượt ra khỏi ái dục và những khoái lạc vật chất”. Đức Phật cũng giảng cho Yasa nghe về hạnh xả ly, trì giới và các cõi trời, về hạnh tri túc và con đường đạt đến chánh trí. Nghe xong Yasa giác ngộ được chân lý và xin quy y với đức Phậttrở thành người phật tử tại gia đầu tiên trong Phật giáo.
Cùng đêm ấy người hầu của Yasa phát hiện ra chủ mình bỏ nhà ra đi và sợ rằng chủ mình sẽ gặp tai nạn nào đó nên báo cáo lên cha của Yasa. Hai người hốt hoảng đi khắp nơi tìm kiếmcuối cùng hai người ra bờ sông và gặp Yasa cùng đức Phật ở đây. Nhân đó ngài đã giảng cho cha của Yasa nghe về những diệu đế trên. Nghe lần thứ hai này Yasa liền đắc thánh quả A La Hán và để tán thán nhân duyên hy hữu này đức Phật nói lên một bài kệ như sau: 

Kẻ sắc phục huy hoàng, 
bước vào con đường thánh.

 Cảm động ân đức này Yasa xin cha mời đức Phật đến thọ trai nơi nhà vào ngày hôm sau và giảng pháp cho mọi người trong gia đình nghe. Cha Yasa ưng thuận và thỉnh cầu lên đức Phật, ngài hoan hỷ nhận lời. Sau khi cung thỉnh được đức Phật đến nhà thọ trai vào hôm sau, Yasa cùng cha mình trở về nhà. Sáng hôm sau đức Phật đến nhà Yasa thọ thực và nhân đó giảng pháp cho toàn thể gia đình Yasa nghe. Sau khi lãnh thọ giáo pháp xong cả gia đình Yasa đồng tỉnh ngộ và để trình bày lòng tin kiên cố của mình đến với giáo pháp mà ông vừa nhận được, cha của Yasa bạch cùng đức Thế tôn rằng:

"Thật là hy hữu thay! đức Thế tôn, cũng như có người dựng lại ngay ngắn một vật gì bị lật đổ, hay khám phá ra điều gì bị giấu kín từ lâu, hay vạch đường chỉ lối cho người lạc bước, hay rọi đèn soi sáng trong đêm tối cho người, giáo pháp mà đức Thế Tôn giảng bằng nhiều phương tiện cũng dường như thế" . 
Bạch đức Thế Tôn, chúng con xin được quy y Phật, Pháp và Tăng. Xin ngài thâu nhận con vào hàng thiện tín. Xin ngài cho phép con nương tựa nơi Tam Bảo từ ngày này cho đến giờ phút cuối cùng của đời conẠ.
Riêng Yasa sau khi đắc thánh quả bèn xin đi xuất gia. Lúc bấy giờ trong làng, Yasa có bốn người bạn thân tên là Vimala, Subhabu, Punnaji và Gavampati nghe tin Yasa đắc thánh quả xuất gia nên cũng đến tìm gặp và thỉnh pháp với đức Phật. Yasa dẫn họ vào tiếp kiến ngài và do tuệ nhãn quán sát biết căn cơ họ đã thuần thụcđức Phật giảng các pháp vi diệu cho họ nghe và ngay sau khi thời pháp chấm dứt cả bốn người đồng đắc thánh quả A La Hán xin được xuất gia. Lúc đó trên cõi này có tất cả là mười vị A La Hán.

Nghe những chuyện kỳ lạ này, năm mươi người thanh niên trong hoàng tộc bèn đến gặp đức Phật và xin được nghe ngài giảng pháp. Sau khi nghe xong họ liền được độ và xin xuất gia tu học với ngài. Chẳng lâu sau tất cả họ cũng đều chứng quả A La Hán
Đức Phật lưu lại Lộc Uyển trong mùa mưa đầu tiên trước khi đi ngược trở lại về hướng Bồ Đề Đạo Tràng và đến thành Vương Xá. Trước khi ra đi ngài tập hợp sáu mươi vị A La Hán lại ân cần dặn dò và giao phó họ trách nhiệm hoằng pháp. Ngài dạy rằng:

Này hỡi các Tỳ kheoNhư lai đã thoát ra khỏi mọi sự trói buộc, dầu ở cảnh trời hay cảnh người. Các con cũng vậy, các con cũng đã thoát ra được những trói buộc của cảnh trời cảnh người. Hãy ra đi các Tỳ kheo để đem lại sự tốt đẹp và hạnh phúc cho nhiều người. Vì lòng từ bi hãy đem lại sự tốt đẹplợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và nhơn loại. Mỗi người hãy đi mỗi ngã. Này hỡi các Tỳ kheo, hãy hoằng dương giáo pháp tốt đẹp trong ba thời. Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng, toàn thiện và trong sạch của các vị. 

Có những chúng sanh vướng ít nhiều cát bụi trong mắt và nếu không nghe được giáo pháp họ sẽ bị sa đọa. Cũng sẽ có những người am hiểu được giáo pháp. Chính Như lai cũng ra đi hướng về Uruvela để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí. Hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được vậy là các con đã hoàn tất nhiệm vụϮ
Tiếp tục cuộc hành trình chuyển hóa, một hôm trên đoạn đường đi lúc ngồi nghỉ dưới một gốc cây ngài gặp 60 người thanh niên đang chơi đùa chọc ghẹo mấy cô thiếu nữ. Khi một trong mấy cô ấy chạy mất nên cả đám họ đi tìm và gặp đức Phật lúc ấy đang ngồi dưới một gốc cây. Thấy đức Phật các chàng thanh niên lại gần và hỏi ngài có thấy một cô thiếu nữ đi ngang qua đây không? 
Đức Phật hỏi lại: 
- Theo ý các anh thì nên tìm một cô gái là hơn hay nên tự tìm 
mình là hơn?
- Thưa ngài dĩ nhiên tìm mình là hơn. Càc chàng thanh niên
kia đáp.
Đức Phật nói: nếu các anh ngồi lại đây một chốc, ta sẽ giảng cho các anh nghe sự thật.
Tất cả họ đều quỳ xuống cung kính đảnh lễ và ngồi sang một bên im lặng lắng nghe lời Phật dạy. Đức Phật giảng giải đạo lý cho họ nghe và nhơn đây mọi người đều phát được lòng tin trong sạch, họ xin được quy y với ngài làm những người đệ tử tại gia của đức PhậtẠ.

Ba La Nại và Lộc Uyển ngược thời gian

 Tính chất thiêng liêng của thành phố này đã đóng một vai trò lịch sử trong chiều hướng phát triển đời sống tâm linh cho cả người dân Ấn thời xưa và mãi cho đến ngày nay. Vào thời kỳ đức Phật Ba La Nại có lẽ là một thành phố rất lớn vì ngài A Nan khi thỉnh cầu đức Phật nhập diệt nơi một trong 6 thành phố lớn này có đề cập đến thành phố Ba La Nại mà lúc bấy giờ tên là Kasi: "Bạch đức Thế tôn sao ngài không chọn chỗ nhập diệt ở các thành phố lớn như: Sravasti, Campa, Rajagrha, Saketa, Kausambi và Kasi mà ngài lại chọn nơi một ngôi làng nhỏ bé hẻo lánh này.Ạ"
Trong cuốn Tây Vực Ký ngài Huyền Trang (thế kỷ thứ VII) cũng ghi một số nét về thành phố Ba La Nại này. Ghi rằng, Ba La Nại tọa lạc về hướng tây sông Hằng rộng khoảng 4000 lý, dân chúng sống đông đúc ở vùng này, rất nhiều gia đình giàu có và nơi họ ở thường có nhiều bảo vật quý giá. Người dân tại vùng này rất nhân áithanh nhã và ham học. Đa số họ là người không có tín ngưỡng tuy nhiên họ cũng rất tôn kính giáo pháp đức PhậtThời tiết dễ chịu, mùa màng phong nhiêu, cây cỏ xum xê và rừng rậm có ở khắp mọi nơiẠ.

 Đối với Phật giáo thì tính chất thiêng liêng ở đây được thiết lập kể từ khi đức Phật cất tiếng rống sư tử khởi chuyển pháp luân tại Lộc Uyển (cách Ba La Nại khoảng 7 dặm) vào khoảng 25 thế kỷ về trước. Lộc Uyển được khởi sự biết đến kể từ thời gian đó. Theo như kinh truyện ghi chép thì Lộc Uyển không chỉ là nơi đức Phật Thích Ca thị hiện chuyển bánh xe pháp trong hiện tại mà cả 1000 chư Phật trong hiền kiếp này cũng đã và sẽ chuyển bánh xe pháp tại đây.

 Lộc Uyển có một chuyện tích kỳ thú như sau: Thuở xa xưa Bồ tát trong một kiếp phải thọ sanh làm nai và được cả bầy nai 500 con bầu làm nai chúa tại vùng này. Cũng trong khu rừng ấy có một đàn nai 500 con khác do nai chúa Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) dẫn đầu. Vào lúc bấy giờ trong vương quốc nọ có một vị vua chuyên thích thú việc săn bắn và thường săn đuổi đốt rừng giết hại các bầy nai và bắt về ăn thịt. Thấy tình cảnh như vậy nên một hôm trong cuộc săn bắn của nhà vua, nai chúa một mình đi đến và thưa thỉnh với nhà vua như sau:
“Đại vương! ngài đã thiêu đốt, săn bắn và giết chóc bao nhiêu là nai chúng trong khu rừng này. Trước khi mặt trời lên nhiều con phải chết, nhiều con đói không tìm ra thức ăn. Vậy từ nay xin Đại vương cho phép chúng tôi mỗi ngày được dâng nạp một con nai và như vậy Đại vương sẽ có được một món thịt tươi tốt và chúng tôi nhờ đó cũng kéo dài được mạng sống. Nhà vua vui vẻ đồng ý và rút đoàn quân săn bắn trở về.
Thế là hai đàn nai trong khu rừng ấy cứ thay phiên dâng nạp sinh mạng một con nai mỗi ngày cho nhà vua. Một hôm có con nai mẹ trong đàn của Đề Bà Đạt Đa mang thai. Con nai cái ấy đến Đề Bà Đạt Đa và tâu lên rằng: Thưa ngài, nay đến phiên tôi dâng nạp mình cho nhà vua nhưng tôi đang có mang, con tôi không thể theo đó mà hy sinh luôn. Vậy xin ngài cho tôi khất hẹn cho đến khi sinh nở xong.
Nai chúa Đề Bà Đạt Đa bấy giờ rất giận dữ và la lên rằng: Ai cũng quý sinh mạng mình, làm sao có thể tìm sinh mạng ai thay thế cho ngươi đây. Ngươi phải đi chịu chết. 

 Con nai mẹ ấy rất buồn rầu than khóc và đi tìm phương giúp đỡ. Nghe có tin đồn rằng nai chúa của đàn kia rất có lòng từ bi nên nai mẹ ấy đến gặp và trình bày hoàn cảnh của mình. Nghe xong Bồ tát nai nói rằng: Câu chuyện đáng buồn nhưng ngươi với tình thương yêu của một người mẹ thật cao cả, ta sẽ hy sinh cứu mạng cho nhà ngươi. 

Nai chúa một thân một mình đi đến cổng thành của nhà vua và mọi người trên đường phố khi ấy đều lấy làm lạ và nói lên rằng: lạ thay, lạ thay hôm nay nai chúa đi đến kinh thành. Dân chúng trong thành ai nấy chạy ra xem.

Nghe mọi người đồn nói như vậy, nhà vua chẳng tin nên sai người hầu chạy ra xem và quả thật người hầu cũng trình bày lại như vậy. Vua bấy giờ mới cho vời nai chúa vào và hỏi: Tại sao hôm nay nhà ngươi đến kinh thành?
Nai chúa trả lời: Lẽ ra hôm nay có một con nai mẹ đến phiên nạp mình nhưng vì đang thời mang thai nên xin được thay thế. Tôi không thể cầm lòng được khi thấy nai mẹ ấy phải bị chết khi chưa được sinh con nên đến đây nạp mình thay cho nai mẹ ấy.
Nhà vua nghe xong câu chuyện rất lấy làm cảm động và nói lên rằng: Hay thay! nai chúa, ngươi tuy là loài vật nhưng lại mang tâm người, còn ta thật xấu hổ thay tuy là người lại mang tâm thú. Nói xong nhà vua cho thả nai chúa ra và truyền lệnh rằng, kể từ nay những con nai không còn phải mỗi ngày nạp mạng cho nhà vua nữa. Vua cũng hiến tặng khu vườn ấy cho loài nai và kể từ đó khu vườn này được đặt tên là là Lộc Uyển.

Nơi Lộc Uyển này có nhiều câu chuyện khác liên quan đến những vị Độc Giác Phật đã bỏ thân nhập diệt tại đây khi hay tin đức Phật Thích Ca sắp hạ sanh từ cung trời Đâu Suất. Một vài kinh sách ghi rằng khi các vị Độc Giác Phật này nhập diệt họ bay lên hư không và Xá lợi họ rơi xuống vùng này nên khu đất này được gọi là Risipatana, nghĩa là: 'nơi các vị ẩn sĩ rơi xuống'. Lúc ngài Huyền Trang đến đây ngài cũng còn trông thấy ngôi tháp đánh dấu nơi 500 vị Độc Giác Phật nhập diệt. Gần đó cũng có ba ngôi tháp khác đánh dấu nơi ngồi và đi thiền hành của ba vị Phật trước đức Phật.
Sau thời gian đức Phật nhập Niết bànLộc Uyển vẫn còn là một trung tâm tu học thuần tịnh tuy rằng không còn được phồn thịnh như khi đức Phật còn tại thếVua A Dục vào thế kỷ thứ III trước TL có đến đây chiêm bái đảnh lễ nơi ngài chuyển pháp luân và cho xây một số tháp tôn thờ đức Phật.

 Thời đại vua A Dục cũng là thời đại mà nền nghệ thuật đạt đến điểm cao nhất. Những nhà nghệ thuật thuộc Mathura đã cung cấp nhiều mẫu tượng độc đáo và trang trí cho những đền tháp tại Lộc Uyển này. Khi vua Kanishka trùng tu những tự viện ở Lộc Uyển và xây dựng những tu viện mới vào thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch thì ảnh hưởng của nghệ thuật Mathura vẫn còn tiếp tục. Năm 87 sau Tây lịch, vị tăng Bala người Mathura đã tạc và cúng dường một pho tượng Bồ tát to lớn được chạm khắc bằng cát đỏ. Nhưng có thể nói truyền thống nghệ thuật này đạt được những đường nét thẩm mỹ cao nhất là vào triều đại của những hoàng đế Gupta (thế kỷ thứ IV đến thứ VI sau Tây lịch). Trong thời đại này ngôi điện thờ trung tâm được mở rộng và bề mặt của tháp Dharmekkha được làm lại bằng đá có chạm khắc một cách thanh nhã.
Ngài Pháp Hiển từ Trung Hoa sang học tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ V có ghi lại rằng, vào thời gian ngài đến Lộc Uyển lúc ấy có hai tự viện và 4 ngôi tháp lớn, cũng có một số đông tăng sĩ tu học tại đâyẠ. Rải rác đó đây trong Lộc Uyển có một số ngôi tháp đánh dấu nơi mà vạn ức năm xa xưa đức Phật Thích ca và ngài Di Lặc được thọ ký về sự giác ngộ của họ trong tương lai. 

Trong các ký sự ghi lại những di tích Phật giáo ở Ấn Độ thì tập ký sự của ngài Huyền Trang được đánh giá cao hơn hết vì ngài đã ghi chép lại đầy đủ và chi tiết mọi sự kiện trong thời gian ngài viếng thăm Ấn Độ kể cả phong tục, văn hóathời tiết, và tinh thần của người dân bản xứ. ở nơi Lộc Uyển này ngài cũng tả chi li về các di tích tại đây: “nội trong khuôn viên của nó mà thôi cũng đã có nhiều di tích đánh dấu sự hiện hữu của đức Phật và ba trăm điện thờ cùng với tháp. Nào nơi đây đức Thế tôn đã tắm, nơi kia đức Thế tôn rửa chiếc bình bát khất thực. Một nơi khác là nơi ngài thường giặt y áo. Rồi những tháp lớn nhỏ xung quanh đánh dấu các truyền tích về những đời tái sanh trước của ngài. Nơi đây trong một kiếp quá khứ Bồ tát đã từng làm con voi sáu ngà, rồi một kiếp khác làm con chim, nơi kia ngài đã từng làm một con nai chúa và một chỗ khác có tháp đánh dấu ngài trong một kiếp làm thỏ đã bố thí thân mạng mình làm thức ăn cho một người đi đường đang đói khác”. 
Khi chúng tôi (ngài Huyền Trang) đến viếng nơi này thì Lộc Uyển có khoảng 30 tự viện và 3000 tăng sĩ tu theo truyền thống Samatiya (Chánh Lựợng Bộ). Cũng có hàng trăm ngôi đền thờ Deva thuộc Ấn giáo và 10.000 du sĩ ngoại đạo. Họ tôn thờ đấng Đại Thiên và thực hành các pháp tu khổ hạnh như cắt tóc, buộc tóc, thân không mặc quần áo và trét tro đầy người. Bằng những pháp tu ấy họ mong cầu được giác ngộ giải thoát khỏi sinh tửẠ. 

Vào thời gian đó Lộc Uyển đã trở thành một trung tâm quan trọng của những tu sĩ Samatiya, một trong 18 tông phái Phật giáo rất đang thịnh hành tại Ấn Độ lúc bấy giờ. Phía đông bắc thành phố, mạng tây của dòng sông Varana có một ngôi tháp cao 100 feet do vua A Dục xây dựng với một trụ đá dựng ở trước mặt. Trên bề mặt trụ đá chói lọi và sáng như gương, phẳng và láng như nước đá. Trên đó người ta cũng thường thấy hình bóng của đức Phật.

 Cách dòng sông Varana về hướng đông bắc khoảng 10 lý, có một tự viện rất lớn khác. Tự viện này gồm có tám dãy phòng nối nhau với những bức tường bao quanh. Tại đây những tháp lớn với các lan can được xây dựng với một kiến trúc rất tinh vi. Gần đó có một tịnh xá khác cao khoảng 200 feet. Tất cả kiến trúc này được xây bằng đá nhưng những tháp bên trong thì xây bằng gạch. Chính giữa tịnh xá có đặt một tượng Phật bằng đồng theo tư thế đang chuyển pháp luân.

Hướng tây nam của tịnh xá có một tháp đá được xây dựng bởi vua A Dục (Ashoka). Mặc dù nền tháp bị hư tháp vẫn còn cao 100 feet hoặc hơn với bờ tường còn sót lại. Trước kiến trúc này có một trụ đá cao 70 feet. Chính nơi này đức Phật đã đến đây và chuyển pháp luân lần đầuẠ.

 
 


Không xa lắm từ nơi này là một nền tháp khác đánh dấu nơi ở của năm người bạn đồng tu với đức Phật và khi thấy ngài từ xa đi lại, họ đã bàn với nhau là không nên đứng dậy chào và cung kính ngài.

 

 Phật giáo thịnh đạt và phát triển trong một thời gian dài ở Lộc Uyển là do sự ủng hộ của các hàng vua chúa và những tầng lớp trung lưu giàu có. Đến thời gian cực thịnh Lộc Uyển đã trở thành một trung tâm nghệ thuật và giáo dục cũng như những hoạt động tín ngưỡngTuy nhiên các ảnh hưởng này đã mất dần kể từ cuối thế kỷ thứ XII sau khi quân đội Hồi giáo sang xâm chiếm Ấn Độ. Sử liệu ghi lại rằng Lộc Uyển bị phá hoại và điêu tàn nặng nhất trong thời gian này. Cuộc tấn công đầu tiên do một ông vua Hồi giáo tên là Mohamet và trong lần đánh chiếm này ông ta đã cho phá tan hàng trăm ngôi chùa tại Ba La Nại và Lộc Uyển, giết đức vua và phá tan thành phố. Lịch sử ghi lại rằng cả một trung tâm thánh địa Phật giáo rộng lớn đã trở thành đỏ thắm bởi màu máu. Sau khi cướp bóc ông ta đã cho chở về nước hơn 1400 con lạc đà chứa đầy châu báu. Lần đánh cướp thứ hai của một ông vua Hồi giáo khác tên là Kutubuddin xảy ra vào năm 1194 đã biến thành phố Ba La Nại và Lộc Uyển thành bình địa hoang tàn

Kể từ thời gian đó Lộc Uyển đã dần dần trở thành một nơi của lãng quên, của hoang tàn đổ nát. Lịch sử Lộc Uyển và thành phố Ba La Nại đã chìm vào quên lãng trong suốt những thế kỷ sau đó. Ánh sáng của nơi thiêng liêng này hé dần bắt đầu vào thế kỷ XIIX năm 1794 khi một quan viên của thành phố Ba La Nại do xây cất dinh thự đã sai những người thợ vào khu vực Lộc Uyển để lấy gạch đá đem về. Khi đống gạch nơi tháp bị kéo sập người ta tìm thấy một hộp đá trong có chứa xương và một tấm thẻ bài ghi chú. Không biết đây là Xá lợi của Phật người ta đem vứt xuống sông HằngϮ

ở phần này có nhiều tài liệu ghi khác nhau. Theo cuốn "The Holy places of Buddha" thì lúc những người thợ kéo sập đống gạch đá nơi ngôi tháp, họ tìm thấy một hộp bằng đá nằm rất sâu bên trong cùng với nhiều mảnh tượng và các tấm thẻ bài, một hình tượng đức Phật được chạm khắc với niên đại Samvat 1083. Bên trong hộp này có một chiếc hộp khác bằng cẩm thạch trong có chứa xương Xá lợi Phật, một số ngọc trai, hồng ngọc, vòng tai bằng vàng và bạc. Hộp cẩm thạch được giao cho một viên chức hành chính Ronathan Dunkan, nhưng ông ta không nhận được hộp bằng đá. Cunningham nhà khảo cổ học người Đức đã tìm cách xác định vị trí của hộp bằng đá này nhưng không tìm ra các sử liệu nào ghi chép về nó. Những hình tượng, các thẻ bài và pho tượng Phật cũng biến mất. Người ta tiến hành việc tìm kiếm pho tượng Phật và sau cùng nó được tìm thấy bị bể bên trong những tảng đá khác bị dời khỏi ngôi tháp. Trong nỗ lực truy tìm chiếc hộp bằng đá, Cunningham đã đến một người công nhân già và theo lời ông ta kể thì ông ta đã để lại chiếc hộp ấy nơi chỗ cũ của nó. Theo sự hướng dẫn của ông ta cuối cùng Cunnningham đã đào lại được chiếc hộp đá đó Ạ

Các cuộc khai quật do nhà khảo cổ học Cunningham đưa ra ánh sáng hầu hết các di tích của Phật giáo mà trong suốt nhiều thế kỷ qua đã bị quân đội Hồi giáo tàn phá và vùi lấp. Cũng trong các cuộc khai quật này người ta đã đào bới được nhiều nền móng tháp và tự viện cổ xưa. Một số tháp có niên đại vào thời đại vua A Dục trong khi một số hàng rào bao lơn có niên đại vào thời kỳ Sunga, xác định rằng các tháp Dharmarajika, Dhamekkha đã từng được bao quanh bởi những bao lơn có hình dáng giống như đại tháp ở Sanchi. Những bia ký được tìm thấy nơi đây cũng ghi nhận rằng tháp Dharmarajika và Dharmachakra đã được sửa sang bởi Sthirabala và Vasantabala trong năm 1026 theo lời yêu cầu của nhà vua Mahibala. 

Tiếp theo sau các cuộc khai quật và nghiên cứu của nhà khảo cổ học Cunningham là một loạt các công trình khảo cổ và nghiên cứu tại những thánh tích Phật giáo khác ở Ấn ĐộTuy nhiên Lộc Uyển có thể được xem là một địa điểm khảo cổ quan trọng vì những mẫu vật mang tính chất rất nghệ thuật được tìm thấy ở đây. Trong khi các công trình khai quật đang được tiến hành thì Lộc Uyển cũng dần được sáng tỏ nổi bậc lên trong lịch sử tôn giáo ở Ấn ĐộTuy nhiên công trình nghiên cứu vùng này đến quá trể nên không thể cứu vãn được ngôi tháp Dharmarajika, và giờ đây do bị tàn phá và hư hại nặng nề trong cuộc đào bới tìm vật liệu xây dựng năm 1794 mà tháp này hiện chỉ còn là một nền móng phẳng lì rộng lớn.

Trong các cuộc khai quật ở Lộc Uyển người ta tìm thấy tổng cộng hơn 300 tượng Phật tại đây. Điều này đã xác định tầm quan trọng của Lộc Uyển như là một trung tâm nghệ thuật từ những thời đại Gupta cho đến thế kỷ XI. Trong các pho tượng được khám phá có những pho tượng Phật rất mỹ thuật đã từng đánh động các nhà sử học và những sinh viên ngành nghệ thuật Phật giáo quan tâm. Đó là bức tượng đá tạc hình đức Phật đang kiết ấn Chuyển Pháp Luân. Một số các tượng Heruka và Tara cũng được tìm ở đây cho thấy rằng truyền thống Phật giáo Tantra đã từng có mặt tại đây. Hầu hết các pho tượng này có thể được nhìn thấy tại Bảo tàng viện Lộc UyểnẠ.

Theo Cunningham thì hầu hết các cuộc khai quật cho thấy Lộc Uyển đã từng bị những nạn hỏa tai lớn. Phần lớn các kiến trúc được ghi nhận là đã bị cướp phá và đốt cháy nhiều lần. Những di vật, các mẫu gạch, các nền móng tháp, chùa viện được tìm thấy trong màu xám đen của tro đốt. Một vài tháp lớn như tháp Dharmekkha còn lại ngày nay là do nhờ những chiếc kiềng bằng sắt chắn trên những viên đá của mặt tháp Dharmekkha và có thể do đó mà tháp khỏi bị sụp đổ và tiêu hủy như những đền tháp tự viện khác.
Kế bên đại tháp là khu vực khảo cổ gồm nhiều nền móng các tự viện xưa được khai quật lại. Khu vực này mang tên Kittoe vì do ông Kittoe đào bới từ 1934 đến 1937. Khu vực này nguyên mỗi bề dài 33m và có tất cả gần 28 tăng phòng

Các cuộc khai quật gần đây đã tìm ra một mảnh của một trụ đá vĩ đại được vua A Dục cho xây tại Lộc Uyển để đánh dấu nơi đức Phật gởi 60 người đệ tử A La Hán đầu tiên đi khắp nơi để hoằng truyền giáo lý đức Phật. Trụ đá được tìm thấy gãy gần sát đất, có lẽ do bị sấm sét và nền của nó được bao quanh bởi một hàng rào bằng thép. Trụ đá này nguyên thủy cao 15.24m được làm bằng đá nguyên khối và thân trụ được chà bóng lưỡng. Đầu trụ có hình sư tử bốn đầu mỗi đầu quay về mỗi hướng tượng trưng cho giáo lý hòa bình của đức Phật sẽ truyền rộng khắp bốn phương thế giới. Dưới chân của tượng sư tử bốn đầu là bốn con vật cùng với bốn bánh xe pháp, mỗi bánh xe có 24 căm tượng trưng cho 24 pháp của đức Phật. Bốn con thú là: ngựa, bò, voi và sư tử. Ngựa tượng trưng cho sự xả bỏ của đức Phật, bò tượng trưng cho dấu hiệu xuất thế của đức Phật, voi tượng trưng cho sự uy dũng của đức Phật và sư tử tượng trưng đức Phật thuộc dòng dõi này. Nền bên dưới là những cánh sen liên hệ đến sự đản sinh của đức Phật khi ngài bước đi bảy bước và dưới chân ngài những đóa sen hiện ra.

Về trụ đá của vua A Dục thì ngài Huyền Trang có tả rõ như sau: Phía tây nam ngôi chùa có một ngôi tháp do vua A Dục dựng lên dù bị đổ nát nhưng cũng còn ba bức tường dài độ 30m rất trơn láng chẳng khác gì ngọc thạch... Phần dưới trụ đá có khắc hàng chữ bằng mẫu tự Bramin theo lệnh của vua A Dục:
"Đấng thiên nhơn sư đã dạy rằng, Giáo hội Tăng Ni không được chia rẽ. Nếu có vị Tỳ kheo nào phá hoại giáo hội, vị ấy phải mặc đại y và phải ở một chỗ thanh tịnh chí thành sám hối. Chỉ thị này phải được tuyên bố khắp nơi cho giáo hội Tăng chúng và Ni chúng được biết. Hoàng đế ban rằng một chỉ thị như vậy được chạm khắc vào chỗ hội họp, chỉ thị ấy phải được triệt để thi hành...Ạ"
Có hai bia ký nữa được chạm bằng chữ Kushana có niên đại vào thời kỳ vua Kanishka (thế kỷ thú I sau TL). Những bia ký này đang được lưu giữ tại bảo tàng viện Lộc Uyển.

Di tích lịch sử.

Tháp Chaukhandi: 
Nằm gần con đường tẻ đi vào Lộc Uyển và cách không xa từ viện bảo tàng khảo cổ Lộc Uyển. Tháp này đánh dấu nơi đức Phật gặp lại năm người bạn khổ hạnh đồng tu. Theo các tài liệu ghi chép lại thì tháp này được xây dựng trong thời đại Gupta tức là vào khoảng thế kỷ thứ V sau TL. Trong những thời gian sau này khi Lộc Uyển bị tàn phá và rơi vào quên lãng thì tháp này cũng như những nơi khác ở Lộc Uyển đã bị dân làng đến lấy gạch đá đem về xây dựng. Tháp hiện chẳng còn gì ngoài một mô đất cao với những phần gạch còn sót lại. Phần trên của ngọn tháp là một kiến trúc hình bát giác do vua Humayun cho xây dựng vào thế kỷ thứ XVI để tưởng niệm nơi ông đã từng lánh nạn cùng với sự cứu giúp của một sư cô tên là Mamta.
Ngày nay ngôi đền hình bát giác ấy vẫn còn, đứng chơ vơ trên một nền gạch rộng lớn với các bụi cỏ hoang dại rải rác khắp nơi thiếu người chăm sóc. 

Dharmekhastupa (Tháp chuyển pháp luân): 
Đại tháp này nổi bậc trong khuôn viên rộng lớn của Lộc Uyển. Đây là một trong những kiến trúc to lớn còn sót lại sau thời gian bị tàn phá. Nhà khảo cổ Cunningham khi cho đào bới phần trên cùng của ngôi tháp thì tìm thấy một tấm bản đá ghi "Dharmekkha" nói rằng đây là nơi đức Phật thuyết giảng bài pháp đầu tiên. Dharmekkha dường như bắt nguồn từ "Dharma Chakra" nghĩa là chuyển bánh xe pháp. Tấm bảng đó cũng đề cập rằng đây là nơi mà năm anh em Kiều Trần Như sống và tu khổ hạnh sau khi họ từ bỏ đức Phật tại Bồ Đề Đạo Tràng.. Đại tháp này nguyên được vua A Dục cho xây vào khoảng năm 300 trước TL. Kích thước hiện tại của tháp này với chiều cao là 31,3m và đường kính là 28.3m. Phần dưới của đại tháp được bao quanh với những phiến đá có đường nét chạm trỗ xinh đẹp về những loại hoa kiết tườnghoa sen. Trên những đường nét chạm trổ đó có 8 khám thờ bằng đá kích cỡ vừa đủ cho một tượng Phật như người thật ngồi bên trong. Nhưng ngày nay thì các pho tượng ấy đã không còn nữa.

Các nền tháp tự viện
Từ bên ngoài đi vào và mặt sau của đại tháp Dharmekkha là một vùng rộng lớn gồm nhiều nền móng tháp và các tự viện khi xưa. Theo ngài Huyền Trang thì nơi đây trong thời ngài có khoảng 30 tự viện và 3000 tăng sĩ tu học. Có lẽ sự hưng thịnh của Phật giáo tại nơi đây thật sự bắt đầu chấm dứt vào thời gian người Hồi giáo xâm chiếm và tàn sát vùng này. 
Năm 1794 trong các cuộc khai quật của nhà khảo cổ Col. C. Mc Kenji và Cunningham sau đó các xương Xá lợi Phật đã được tìm thấy từ tháp Dharmarajika. Theo sự ghi lại của ngài Huyền Trang thì trước đại tháp này có một trụ đá của vua A Dục.

Ashoka Pillar (Trụ đá vua A Dục):
Kế bên khu vực khảo cổ, bên trong một hàng rào sắt là một phần của trụ đá vua A Dục. Nhà vua cho xây trụ đá này vào khoảng 250 trước TL trong dịp đi chiêm bái các thánh địa Phật giáo tại vùng này. Trụ đá nguyên thủy cao 21.33m trên đỉnh có tạc tượng sư tử bốn đầu. Thời gian sau trụ đá bị gãy và trong các cuộc khai quật sau này người ta đã tìm thấy được phần trên của trụ đá, phần này được đưa vào trưng bày trong bảo tàng viện khảo cổ ở Lộc Uyển. Phần dưới thân trụ đá vua A Dục cho khắc những hàng chữ Bramin khuyến bảo các đệ tử Phật nên sống hòa hợp trong tăng đoàn. Theo các ký sự ghi lại thì trụ đá này đánh dấu nơi đức Phật sai phái 60 người đệ tử A La Hán đầu tiên trong giáo đoàn đi khắp nơi để tuyên dương Phật pháp.

Vườn nai:
Mặt bên của khu vực đào bới khảo cổ trong phạm vi Lộc Uyển là một khu vườn nai rộng lớn. Tại đây người ta có thể trông thấy nhiều loại nai khác nhau. Cách đó không xa là một số chuồng khác và một vài hồ nhỏ nơi người ta nuôi một số chim đủ loại.

Những thắng tích thời đại

Bảo tàng viện khảo cổ: Bảo tàng viện này được thành lập vào năm 1910, trong có cất giữ nhiều tượng Phật cổ xưa quý báu. Một số các tượng Bồ tát, tượng hộ thần theo truyền thống Kim Cang Thừa cũng được thấy tại đây. Trong bảo tàng viện này có hai vật thật đặc biệt một là tượng Phật được tạc theo tư thế chuyển Pháp luân, diện mạo trông thật sống động và đầy nét an tĩnh tự tại của một bậc giác ngộ. Hai là phần trên của trụ đá A Dục gồm có tượng sư tử bốn đầu quay về 4 hướng khác nhau. Tượng đầu sư tử này trông còn nguyên vẹn và bóng lưỡng. Chính phủ Ấn Độ cũng lấy dấu hiệu này làm quốc huy của mình cũng như cho in biểu tượng này trên các tờ giấy bạc. Hầu hết các tượng đá Phật giáo đều bị đẽo cả mắt tai trông thật đau lòng.

Mulgandha Kuti.
(Tịnh xá Hội Đại Bồ Đề): Từ cổng chính đi vào Lộc Uyển là ngôi tịnh xá Mulgandha Kuti cao lớn sừng sững. Ngôi tịnh xá này nguyên được Hội Mahabodhi cho xây dựng vào năm 1931 với chiều cao 30.48m. Lối kiến trúc của tịnh xá này lấy từ mẫu của Đại tháp Bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng. Bên phải của tịnh xá là một khu vực nhỏ, nơi có tạc hình tượng của đức Phật và năm anh em Kiều Trần Như ngồi nghe pháp xung quanh. Sau lưng tượng đức Phật là cây Bồ đề, được chiếc nhánh từ cây Bồ đề nguyên thủy tại Tích LanCây Bồ đề này được xem là đời thứ ba so với cây Bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng.

Chùa Tàu: 
Không xa lắm từ tịnh xá Mulgandhakuti là chùa Tàu được kiến trúc theo kiểu mẫu Trung Hoa. Chùa đầu tiên tạo dựng do ông Leechoon Seng, tỉnh Phúc Kiến Trung Hoa năm 1939. Thời gian gần đây được biết chùa đã hiến tặng lại cho Phật Quang Sơn nguyên do ngài Tinh Vân Lãnh đạo tại Đài Loan. Bên trong chánh điện có tôn thờ một tượng Phật bằng ngọc cẩm thạch được tạc theo kiễu mẫu Miến Điện.

Chùa Tây Tạng
Chùa này là một kiến trúc tiêu biểu của nền Phật giáo Tây Tạng tuy không lớn lắm. Bên ngoài cổng tam quan có tượng hai con lân lớn ngồi chầu. Vào sâu trong chánh điện ngay ở giữa là một tượng Phật Thích Ca rất lớn tay kiết ấn Chuyển Pháp Luân cao khoảng 4.5m. Bên phải tượng là ngài Xá Lợi Phất và bên trái là ngài Mục Kiền Liên. Mặt sau của bức tượng là những họa hình theo kiểu Thangka Tây Tạng rất đẹp, cả bốn bên tường cũng có họa nhiều hình Thangka nhưng đã phai màu qua thời gian. Hai bên điện thờ cũng được trang trí một ngàn vị Phật nhỏ bằng đồng được đựng trong các tủ kính.

Viện Phật học quốc tế: 
Cách chùa Tây Tạng khoảng vài trăm mét là một Phật học viện Tây Tạng tương đối tầm cở gồm nhiều phân khu khác nhau để các sinh viên nghiên cứu. Viện này được khởi xướng vào năm 1970 và đến năm 1977 viện mới chính thức được chính phủ Ấn tài trợ. Đại học Phật giáo này đào tạo các cấp bậc cử nhân và cao học. Nơi đây có một thư viện tầm cở gồm nhiều bộ Đại Tạng Kinh khác nhau như: Đại Tạng Tạng 310 bộ in theo kiểu mới và được ấn hành tại Mỹ; Đại Tạng Hán 162 bộ; một phần ĐạI Tạng Phạn gồm 20 bộ, Đại Tạng Pali, Anh và Hindi. Thư viện cũng có nhiều băng giảng Cassette, băng Video, những loại máy móc tìm, in tài liệu tối tân như máy đọc microfilm, máy in microfiche. Người ta có thể dùng các loại máy này để đọc hoặc in ra 35.000 cuốn kinh sách tiếng Tây Tạng tại đây. Cũng có một nhà in để in các tài liệu, kinh sách nghiên cứu cho sinh viên. Phần lớn các bản kinh, luận bị thất lạc tại Ấn Độ nay cũng được dịch lại từ Tạng ngữ ở nơi viện Phật học quốc tế này. Hiện có khoảng 300 sinh viên đang học tại trường.

Chùa Miến Điện và nhà khách
Từ trong khu vực khảo cổ Lộc Uyển người ta có thể nhìn thấy cổng tam quan của chùa Miến Điện. Chùa này có một tượng Phật tuy nhỏ nhưng rất đẹp. Những người khách hành hương cá nhân có thể xin phép nghỉ lại tại nhà khách chùa Miến Điện này mà không gặp nhiều khó khăn.

Sông Hằng:
Trong nhiều đoạn kinh đức Phật thường nói đến sông Hằngso sánh cát ở con sông này mỗi khi đức Phật muốn nói đến con số không thể đếm kể được như: 'Hằng hà sa số chư Phật, chư vị Bồ tátHằng hà sa số thế giới.v.v... Sông Hằng này bắt nguồn từ dãy Hy Mã Lạp Sơn chảy xuyên suốt qua Tây Tạng và Ấn Độ với độ dài trên 5575 Km. Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn nhận nhiều nguồn nước từ con sông này nhưng khi nói đến tính chất thiêng liêng của Sông Hằng người ta thường liên tưởng đến một vài khúc sông đặc biệt nơi đó người dân Ấn thường tắm rửa, cầu nguyệnlễ báithiền định và quy tụ về hàng năm mỗi khi đến ngày đại lễ của họ. Mang tính chất đặc biệt nhất của con sông Hằng là vùng đền thờ và Ghat để tắm và cầu nguyện ở Ba La Nại, nơi mà người dân Ấn tôn sùng và kính ngưỡng như là một nơi linh thiêng bậc nhất. 

 Tại Ba La Nại chạy dọc theo khu phố chợ là các hẻm nhỏ dẫn xuống con sông Hằng. Xuống đến gần bờ sông có rất nhiều thang cấp nối liền với mực nước của con sông. Đây là nơi tắm rửa, giặt giũ hoặc là nơi tu tập mỗi sáng của người Ấn giáo. 
Vào tháng ba năm 95 chúng tôi cùng một phái đoàn bên Đức đến viếng nơi sông Hằng này vào buổi sáng sớm. Có lẽ hôm ấy là ngày lễ đặc biệt của hàng tu sĩ Ni Kiền Tử chăng vì khi chúng tôi đến có khoảng hơn trăm tu sĩ Lõa thể đứng tụ tập bên sông. Sau đó họ từng nhóm hoặc đi trên sông, hoặc cỡi ngựa theo hai bên bờ hoặc ngồi quây quần chung quanh các đống lửa. Thân thể trần truồng, tóc râu dài lê thê và mình đầy những tro trông đến dị kỳ. 

Quả thật xứ Ấn Độ sau hơn 2500 năm từ thời Phật còn tại thế mà vẫn còn mang nhiều màu sắc cổ tục lạ lùng. Tôi tưởng chừng như ở nơi đây thời gian dường như bị ngưng đọng lại và những gì Phật nói khi xưa đều có thể trông thấy ở ngày nay. Một lần xem cuốn phim “Little Buddha” tôi thấy quang cảnh dàn dựng thời đức Phật thật đẹp và hay và cũng rất giống quang cảnh ngày nay của xứ Ấn Độ. Cũng những chiếc sari muôn màu sắc của phụ nữ và những khố trắng lam lũ bạc màu ấy thuở trước, những khu nhà xưa cổ kính và những đoàn người gồng gánh khiêng vác mua bán rao rêu, cũng những đám bụi mờ trên đường phố và người vật chen chúc nhau đi qua lại. Tôi cười nói với thầy Hạnh Tấn rằng, chà! họ đóng phim thời đức Phật như vầy thật chẳng cần tốn nhiều tiền để dàn dựng quanh cảnh, vì cảnh thời đức Phật và nay chẳng khác lắm, khác chăng là chỉ thêm vài chiếc xe hơi, xe buýt.

Sông Hằng là một nơi lý tưởng để xem cảnh trời mọc lúc bình minh. Người hành hương thông thường thức dậy từ sáng sớm ra nơi con sông Hằng này để xem cảnh mặt trời mọc và cảnh những người Ấn giáo tu tập tắm giặt bên sông. Mọi người có thể đi ghe trên sông để nhìn ngắm quang cảnh chung quanh. Phía trên dòng sông là nơi hỏa thiêu xác người. Tại đây chỉ là một bãi đất trống và xác người được mang đến trên một chiếc cáng gỗ bằng hai thanh cây đơn sơ. Cái chết ở một vùng đất tâm linh lạ thường như vậy đó. Tầm thường và đơn giản đến bạc bẽo vô tình. Khi tiễn đưa người quá cố cũng chẳng có kèn trống lễ nhạc, cũng chẳng có tiếng khóc than tủi phận của người thân trong gia đình. Chỉ có bốn chàng thanh niên mang cáng và một vài người thân nào đó lặng lẽ đi theo sau.

Người Ấn tin tưởng rằng dòng sông Hằng là nơi linh thiêng và cao quý vì nước sông này có thể rửa sạch tội lỗi của người quá cố. Thế nên dù chết ở bao xa họ cũng cố gắng mang về đây hỏa táng và ném tro xuống dòng sông. Thông thường có bốn loại người khi chết sẽ không bị thiêu đốt và ném xuống dòng sông Hằng, đó là: người bị rắn cắn, người bị trúng độc, em bé nhỏ và một vị hiền trí. Niềm tin của người Ấn cho rằng người bị rắn cắn chết và người bị trúng độc chết có thể được cứu chữa bởi một loại linh dược nào đó khi cơ may này đến nên sẽ không bị thiêu. Một em bé mới sanh thì còn trong trắng, ngây thơ chưa tạo ra tội lỗi nên không phải thiêu đốt và ném xuống dòng sông để được rửa sạch tội lỗi. Một bậc hiền trí thì đã có công năng tu tập loại bỏ được phiền não tội lỗi nên cũng không cần phải được rửa sạch tội lỗi nơi dòng sông này.

Những mẩu chuyện.
Chúng tôi đến Ba La Nại rất nhiều lần, mỗi lần là mỗi hướng và mỗi phương tiện. Có khi chúng tôi đi tàu lửa từ Bodhgaya, có khi đi xe buýt từ Gorakhpur và có khi lại đi máy bay từ Delhi. Đoạn đường hành hương có nhiều hướng khác nhau nhưng thường là chúng tôi muốn chọn cho mình một kinh nghiệm hiểu biết. Lần đi gần đây nhất là đi máy bay từ Delhi. Chuyến đi ngắn ngủi đến tệ vì chỉ thoáng sau một bửa ăn là máy bay bắt đầu đáp xuống Ba La Nại. Người ta không có thời gian để nhìn và để hiểu những đoạn đường từ Delhi đến Ba La Nại trên những con tàu hoặc trên những chiếc xe buýt được gọi là tối tân hiện đại
Lần đầu tiên đến đây tôi ngỡ ngàng ngắm nhìn thành phố xa lạ mang đầy màu sắc tôn giáo này. Thành phố không lớn lắm nhưng có rất nhiều các đền thờ Ấn giáo. Có những đền thờ to lớn lộng lẫy nhưng cũng có nhiều đền thờ nhỏ bé mang đầy lối kiến trúc cổ xưa. Các đền thờ ấy với những đền tháp nhòn nhọn vươn thẳng lên cao chen mình trong những đường phố ồn ào huyên náo của phố thị và ngày đêm tuôn phát ra các bài kinh tụng từ một hai chiếc loa gắn bên trên đỉnh đền. Người dân Ấn không phiền hà về việc này và cho đó là chuyện tự nhiên cần phải có để con người có thể ghi nhớ những lời kinh tụng khuyến dạy đạo đức của bậc thánh nhân.
Tôi luôn luôn có cảm giác gần gũi với đời sống tâm linh nên có những dịp rảnh tôi cũng hay đi đó đây để tìm hiểu cho biết. Có lần cũng việc đi xem chùa ở sông Hằng mà tôi xem bị mắc lưới họ dù rằng cho đến nay tôi vẫn chưa đoan chắc là sẽ bị mắc lưới hay do vì trí quá sức tưởng tượng của tôi. Lần ấy sau khi được chiếc ghe chèo đưa đi đến thăm nơi hỏa thiêu xác người, anh chèo ghe dụ tôi đi thăm một đền thờ vàng nổi tiếng linh thiêng gần đó. Tôi nửa muốn đi cho biết nửa lại chẳng muốn vì sợ -lần đầu tiên đến Ấn mà, thấy ai ai cũng đen đúa râu ria xồm xoàm thật bắt ớn sợ- nên một mực chối từ.

Có lẽ cái tật nói dai nhách, dai còn hơn đĩa của mấy anh chàng Ấn đôi khi cũng thành công trong việc thuyết phục kẻ ngu ngơ nên anh ta cứ bám sát theo tôi mãi mặc dù tôi khoác tay từ chối đến hơn hai mươi lần. Vậy mà không hiểu sao trời xui đất khiến sau cùng tôi cũng nghe lời mà theo chân anh chàng ấy. Lần đi xuyên qua và len lách trong những con hẻm nhỏ đến chật người và cao vòi vọi của những tòa nhà nhiều tầng. Năm phút trôi qua đI xuyên những hẻm hóc ấy mà tôi vẫn chưa thấy đến mặc dù anh ta cứ luôn miệng nói rằng ở trước kìa, ở trước kìa. Tôi bắt đầu run bắn người vì chung quanh mình không một ai khác ngoài những người Ấn khác tò mò tôi lạ lùng. Không run sợ sao được khi trong túi tôi có vài ngàn đô và nơi đây chỉ có tôi nhỏ bé và một anh chàng Ấn to lớn trong một con hẻm nhỏ vắng người. Anh ta có thể dí dao hoặc dọa bóp cổ tôi để chận tiền lắm chứ. Và nếu chuyện ấy xảy ra thì quả thật đó là một chuyện xui xẻo trong ngu xuẩn vô cùng. Đi năm châu bốn bể, ngược xuôi bắc nam đông tây Ấn Độ cả trong đêm tối nữa không bị mà bị ban ngày ban mặt như đây thì thật là hết thời

 Đúng như tôi có dự đoán trong đầu sau khi đi một lúc là chủ ý anh ta chẳng phải muốn dẫn tôi đến đền thờ Vàng nào đó -vì thật sự đến đó chẳng mang lợi gì cho anh ta- mà muốn dẫn tôi đến một tiệm bán tơ lụa gấm để lấy tiền dẫn mối. Anh ta nói vào đây một chút thôi, để coi không mua cũng được. Lại thêm những lời nói năn nỉ đường mật đến chết người. Tôi lại cũng ngu ngơ chấp nhận nhưng khi vào trong cái tiệm nhỏ như chiếc hộp ấy tôi mới lại hối hận. Vì khi bước vào anh ta liền gác ngang thanh gỗ và cài then cửa lại. Tôi lại giật mình đến thót người vì giờ đây trong căn hộp này có đến ba người. Nếu họ hành hung tống tiền và hạ sát tôi thì ai biết và rõ thật là xui. Ôi chao! lúc ấy sao Phật pháp và chánh niệm ở đâu tôi không thấy và không thể nhớ. Cái ngã khổng lồ lúc ấy đang ngự trị tâm tôi và tôi khi ấy chỉ biết có mình và có tiền của mình. Gặp phật tử tôi cũng thường nói chuyện đạo với họ và khuyên họ nhiều lắm mà, nào phá ngã, nào vô thường, xác thân này, tài sản này không phải của ta. Vậy mà chính tôi lúc ấy mới thấy thật là “của ta” hơn ai hết. Rõ là công phu tu tập mấy năm rồi chẳng mang lại một tý nào hiểu biếtý thức và giác tỉnh về thân mình và ngoại cảnh chung quanh. Chuyện đời mà, phải chăng cớ sự khi xảy ra liên hệ đến chính bản thân này mình mới thấy thật và lo tìm phương cách chạy trốn. Ngay cả khi cái nguy, cái hiểm đến mình và có thầy bạn mình bên cạnh mình cũng cứ chạy để thoát mặc cho ai ra sao thì ra. Còn giả như lúc ấy có chút ý thức biết rằng làm vậy sẽ mang tiếng xấu cả đời nhưng có lẽ cái ngã và thân này được như ý thì cũng cứ thoát chẳng kể đến ai.

 Cũng may sự tình lúc ấy chưa đến hồi kết cuộc, chỉ đang ở đoạn giữa vì khi đó mấy anh chàng bán lụa gấm mới bày hàng ra chào tôi. Hết cuộn này đến cuộn khác anh ta cứ sổ tung ra và dơ cho tôi xem. Tôi đâu có ý mua đâu và tại sao lại cứ sổ tung hàng mấy chục cuộn vải gấm như vậy. Bộ hết chuyện gì làm rồi hay sao mà cứ làm vậy. Trong đầu tôi loay hoay tự hỏi và cố tìm cách thoát thân mà chưa biết ra sao, vì bỏ đi như vậy là phụ lòng anh dẫn mối và bỏ công hai anh chàng sổ tung vải chào khách. Sau cùng chịu không nổi nữa tôi đánh liều nói rằng tôi không mua đâu, cám ơn hai anh và mở nhanh thanh cửa chắn, tôi chạy tuốt ra ngoài. Bắn mình ra khỏi con hẻm tôi nói với lại: tôi không đi xem chùa nữa đâu, tôi đi về, và như vậy tôi chạy thật nhanh xuyên qua những con hẻm nhỏ. Đâu đó khoảng mười phút rồi mà tôi vẫn chưa ra được khu hẻm chằn chịt và cũng may cuối cùng tôi gặp một vài người cảnh sát đang ngồi trực ở một ngã ba hẻm. Hỏi lần đường ra cuối cùng tôi đến được chợ và cảm thấy hú hồn vì một phen trót dại nghe lời.

Với chúng tôi trong những lần đi sau đó thì Ba La Nại chẳng có gì đáng xem nhiều ngoài con sông Hằng mang nhiều tính chất kỳ bí qua các kinh điển hay qua nhiều lời truyền tụngSông Hằng không đẹp lắm nhưng trông đầy vẻ thiêng liêng huyền bí của những ngôi đền Ấn giáo xây dọc theo men sông hay những tiếng chuông ngân, tiếng loa, kèn luôn ngày tụng kinh chú ầm ỉ. Chúng tôi không biết linh thiêng ở chỗ nào nhưng tất cả người dân Ấn nam nữ, già trẻ đều tin như vậy và xuống sông tắm mỗi khi có dịp. Họ thường xuống sông tắm vào buổi sáng, vốc nước cúng dường cầu nguyện và tin rằng dòng dông này làm nơi rửa sạch linh hồn cho các người quá cố. Họ làm vậy với đầy lòng sùng kính và tin tưởng nhưng chúng tôi thì lấy làm ghê vì con sông này thật là dơ không thể tả. Bao nhiêu xác người, xác vật và tro cốt của người chết đều được ném xuống sông Hằng, nơi khúc sông này. Có lúc chèo ghe trên sông chúng tôi thấy những xác con trâu, con bò hoặc đôi lúc một xác ngươi bập bềnh trôi qua lại. Thế đấy dòng sông Hằng có những chuyện kỳ quái đến lạ lùng như vậy đấy. 

Mỗi lần đến là mỗi lần chúng tôi đi xem sông Hằng lúc bình minh. Cảnh trạng trên sông thật đẹp khi mặt trời vừa lên, còn trước đó thì cảnh tượng mang màu sắc yên tĩnh của buổi tối trời. Lần đầu đến đây chúng tôi cũng hơi sờ sợ nhưng cũng làm bộ anh hùng quơ chân múa tay mặc cả từng xu từng cắc khi mướn thuyền bè với họ. Theo cuốn " India, Travel survival kit" chúng tôi biết giá chính thức mướn một chiếc thuyền để chèo trên sông là 25 Rs nên đòi cho được giá này, trả giá, cắt bớt từ 350 Rs xuống đến 30 Rs. Lần đầu mà như vậy chúng tôi cũng thấy mình như lập được một kỳ công. Tôi biết có những người bạn du lịch ở Ấn nhiều năm mà đến đây vẫn bị hớ và họ phải trả 200 Rs để mướn một chiếc thuyền, lúc đó còn hãnh diện là đã trả giá hay và có được một giá rẻ. Khi gặp tôi nghe bật mí 25, 30 Rs, ai cũng la hoảng. Ấn Độ là vậy đó, có bị gạt mới khôn, có thấy tức tối mới thấy vui, có thấy dơ nhớp của lầy lội sình đất, của phân bò vơi vãi khắp nơi và của những bãi rác cao ngất mới thấy cái sạch của những nơi không rác không phân trên các con đường phố khác. 

Quang cảnh trên sông cũng thường là nơi buôn bán, dụ dỗ to nhỏ của những anh chàng Ấn chuyên làm nghề gạ gẫm du khách. Có lẽ nghề này thịnh đạt lắm nên thấy số thương gia ngày càng tăng. Lâu lâu trong phái đoàn chúng tôi dẫn đi cũng có một vài người mắc lưới. Tuy không đến nỗi hớ giá lắm nhưng thường là làm bực mình cho cả phái đoàn vì khi họ bán được một người rồi thì cả năm bảy chiếc ghe khác cũng chèo xúm lại, theo đuôi gạ gẫm dai nhách chiếc ghe của chúng tôi suốt hàng giờ trên sông. Đây nên là một kinh nghiệm đáng tránh.
Ngay cả khi đi chiêm bái cá nhân chúng tôi cũng không tránh khỏi màn bị đuổi bắt. Cuộc đuổi bắt bất bạo động thường diễn ra ở nơi linh thiêng nhất giữa kẻ muốn thương người và giữa người muốn được thương. Đôi khi cuộc đuổi bắt đến hồi gay cấn đến nỗi kẻ muốn thương người sợ hãi không muốn thương nữa, không kịp cột dây giày cứ thế mà chạy trông thật thảm thương. Đây thật là một cảnh tượng có một không hai và chỉ có trên bờ sông Hằng, xảy ra giữa các khách hành hương với một đám người ăn xin bị phung cùi ghẻ lỡ.

Số là khi mọi người trong đoàn hành hương đến bờ sông, cảnh tượng lúc ấy tối trời và mọi người ai chẳng trông rõ ai chỉ lo chăm chăm đi cố định tâm tránh những bãi phân nằm rãi rác trên đoạn đường. Nhưng khi xem xong trở về thì trời hừng sáng, lúc ấy cũng là giờ mà các bác, cô chú, anh chị phung cùi (có lẽ có một trại cùi gần đó mở cửa giờ đó để mọi người đi làm) ăn xin bắt đầu làm việc. Họ thường ngồi một hàng dài dọc theo con đường van lơn người du khách xin thương xót. Khi không thấy được đếm xỉa họ liền chạy theo, có khi chạy nhanh trước chận đầu. Đa phần là người phung cùi và có khi để đưa ra chứng cớ về bệnh tình của mình, họ bày cho xem những phần cùi bị lở loét đầy máu. Trong những trường hợp như vậy tôi thường khuyên những người trong đoàn không nên cho vì cho những lúc như vậy rõ là không đúng lúc đúng thời và thường mang vạ lây cho người trong đoàn. Thường thì những người gan lì nhất (hay cho không đúng lúc không đúng thời tại Bồ Đề Đạo Tràng) cũng phải gần như vắt chân lên cỗ mà chạy vì lúc ấy kinh sợ. Nói chung cũng may là các cô bác anh chị cùi ở Ấn Độ hiền lành chỉ đưa bệnh lỡ của mình lên cho xem dù không được cho chứ không đến nỗi hung hăng đòi trây vào người khác!

Lần đầu đến Lộc Uyển chúng tôi còn nhớ mình phải dọ dẫm tìm đường. Khu vực này không rộng lắm nhưng nếu gặp một vài anh bạn Ấn nào đó nhiệt tình nhưng thiếu hiểu biết thì có thể từ đông họ chỉ sang tây, từ tây họ chỉ sang bắc, bắc sang nam rồi cuối cùng điều tất nhiên phải có là gặp một anh bạn Ấn chỉ đúng đường chỉ ta về lại chỗ cũ cách đó không xa dăm bước. ở Ấn Độ này là vậy và chúng tôi có thể nói trong một trăm lần hỏi đường thì phải trải qua hết chín mươi lăm lần đi vòng vòng một cách mỏi cẳng ngu ngơ. Người dân Ấn không xấu, không cố tình chỉ sai có điều họ nhiệt tình quá nên không biết cũng tỏ ra biết để giúp người, để khỏi làm người khác thất vọng. Mình không cần họ giúp họ cũng bâu lại nói này nói kia tìm cách giúp đỡ. Chỉ có điều sau mỗi lần được giúp đỡ kiểu đó chúng tôi đã phải kềm mình giữ lắm mới có thể nói được câu "Thank You" thay vì phải rủa ra thành lời. Quả thật ở Ấn Độ thì chúng tôi phải tập sống, tập tư duy theo lối của Sĩ Đạt trong cuốn "Câu chuyện của dòng sông" là "nhịn đói, im lặng và chờ đợi” hay đúng hơn có lẽ là chịu nhịn". Có như vậy thì chúng tôi mới có thể thấy an lạc và hạnh phúc trong thời gian sống tu học tại đây.

 Lộc Uyển ngày nay không còn là những nơi tu hành khổ hạnh của các vị ẩn sĩ ngày xưa, mà là một nơi tưởng niệm của chánh pháp với những công viên trải dầy cỏ xanh mướt, những vườn hoa được cắt xén chăm bón cẩn thận và những nền móng chùa tháp xưa còn sót lại sừng sững mang tiếng một thời. Chúng tôi đến Lộc Uyển với một tâm thành, một tấm lòng của một người con đi tìm về cội nguồn để nhớ tưởng đến người cha. Đến bên đại tháp Dharmekha chúng tôi ngưỡng vọng nguyện cầu cho dân tộc, cho sanh linh bớt đi những ách nạn và quay trở về sự giác tỉnh Phật tính trong tâm, trong những lần như vậy chúng tôi cũng tụng kinhngồi thiền hoặc đi kinh hành quanh tháp. Những giây phút tịnh tâm quán tưởng tu tập như vậy chúng tôi cảm thấy mình an lạc lạ và những khi đi một mình đến đây chúng tôi thường ở lại rất lâu bên đại tháp.

Thường thường ra khỏi những nơi thanh tịnh thì có nhiều những chuyện không thanh tịnhphiền toái xô bồ của thế gian. Đâu cũng vậy, mỗi thánh tích Phật giáo là một một mưu mẹo mánh mung của người dân Ấn địa phương. Tại Lộc Uyển này có chuyện dụ dỗ bán tượng cỗ dù rằng tượng trông cổ thật nhưng cái cổ từ lò mới ra. Các tượng Phật nhỏ bằng đất nung tạc hình Phật ngồi kiết già tay kiết ấn chuyển pháp luân. Đây là một tạc tượng nổi tiếng tại Lộc Uyển và ngày nay người dân địa phương lấy đất nung tạc theo hình tượng này. Tượng nhỏ bằng nắm tay trông rất đẹp vì đường nét đúc rất sắc sảo, công phu thường được các chú đem dấu lập lò trong túi, nói rằng đây là tượng cổ vừa mới lén đào được rất quý hiếm và giá chỉ có 100 US, hoặc đôi khi nói giá chỉ 50 hay 20 US tùy theo chú ấy "coi mặt mà bắt hình dong". Chắc lâu lâu chú cũng gạt được một vài người nai tơ nên coi bộ màn ấy cứ trình diễn hoài mỗi lần chúng tôi đến Lộc Uyển. Có lần mọi người trong đoàn thích và muốn mua nên tôi không ngại chạy đi tìm mối và sau cùng mua được trên hai mươi tượng mỗi tượng chỉ có 5 Ruppies, tức là 1US mua được hơn 6 tượng.

Ba La Nại & Lộc Uyển đến và đi.

 Ba La Nại là một trong những thành phố lớn nên việc đến và đi từ thành phố này tương đối dễ dàng và thuận tiện

Đến Ba La Nại có thể thực hiện từ 3 hướng khác nhau.
1/. Delhi-Ba La Nại. Khởi đầu cho chuyến hành hương có thể đi từ Delhi bằng máy bay hoặc xe lửa. Delhi-Ba La Nại vé máy bay Indian Airlines là 74 USD, bay khoảng gần 2 tiếng cho đoạn đường 800 Km. Đi vé tàu lửa Delhi-Ba La Nại là 123 Rs hạng nhì, 463 Rs hạng nhất và 800 Rs cho hạng nhì máy lạnh và đi xe lửa mất 13 tiếng đến 16 tiếng.
2/. Gaya-Ba La Nại. Khách hành hương có thể đi tuyến đường trên và ngược lại từ Gaya. Có thể lấy chuyến tàu Rajdhani trên đường từ Calcutta đi Delhi và ta có thể dừng lại ở Ba La Nại.
3/. Patna-Ba La Nại. Patna thủ phủ của tiểu bang Bihar cách Gaya khoảng gần 150 Km và Ba La Nại 228 Km. Đi tàu lửa từ Patna có thể khởi hành từ sáng sớm với chuyến tàu Amritsar Mail. Chuyến đi tàu này mất 5 tiếng cho đoạn đường dài 228 Km.

Từ Ba La Nại có thể tiếp tục cuộc hành trình theo 4 hướng. 
1/. Ba La Nại-Gorakhpur. Thành phố gần nhất (cách Kushinagar 55 Km) để viếng thăm Câu Thi Na thành, nơi đức Phật nhập Niết Bàn. Đoạn đường này chỉ có thể đi xe buýt và và xe lửa. Xe buýt giá vé 37 Rs và phải đi 6 tiếng 30 phút cho đoạn đường dài 255 Km. Xe lửa giá vé 49 Rs cho hạng nhì và 178 Rs cho hạng nhất, chuyến đi cũng kéo dài 6 tiếng.
2/. Ba La Nại-Sonauli. Biên giới Nepal Ấn Độ gần nhất để đi thăm Lumbini (Lâm Tỳ Ni) cách biên giới khoảng 25 Km. Đoạn đường chỉ có đi xe buýt hoặc có thể đi tàu đến Gorakhpur và từ đó lấy xe buýt đi tiếp đến biên giới Sonauli. Đi xe buýt thẳng đến biên giới Sonauli thì tại Ba La Nại có hai chuyến vào buổi sáng và buổi tối đến biên giới Sonauli. Giá vé 65 Rs và chuyến đi mất 9 tiếng. 
3/. Ba La Nại-Patna. Đoạn đường này có thể đi được nhưng không thuận lắm trong tuyến đường hành hươngBa La Nại đi Patna thường chỉ có xe lửa là tiện. Giá vé 49 Rs cho hàng nhì và 175 Rs hạng nhất. Chuyến đi mất 4 tiếng 30 phút cho đoạn đường 228 Km.
4/. Ba La Nại-Gaya. Đoạn đường tương đối khá phổ cập cho người hành hương sau khi viếng thăm thánh địa Phật giáo thứ nhất là Lộc Uyển. Không thấy trong các sách báo đề cập đi tuyến đường này bằng xe buýt chính phủ và máy bay nhưng đi bằng tàu lửa và xe buýt (hãng du lịch tổ chức) thì tương đối khá dễ dàng. Tuyến đường Ba La Nại đi Gaya nằm trên đoạn đường của chuyến tàu đặc biệt Rajdhani Express đi từ Delhi đến Calcutta. Chuyến tàu đặc biệt này chỉ có toa máy lạnh và giá vé độ 300 Rs cho đoạn đường dài 240 Km từ Ba La Nại đi Gaya, thành phố gần nhất cách Bồ Đề Đạo Tràng 15 Km.

Nghỉ lại đêm ở Ba la nại.

 So với những nơi khác trên thế giới có thể nói Ấn Độ là một nước có nhiều khách sạn nhất và giá cả cho người lữ khách cũng phải chăng nhất. Sang tột đỉnh cho các hạng người giàu sang với giá 100, 200 US một đêm cũng có nhiều khách sạn như: Taj Mahal, Oberoi, Clark, Best Western Surya v.v.. mà đơn sơ vỏn vẹn chỉ có chiếc phòng nhỏ với chiếc giường khập khểnh, chiếc khăn giường nhàu nát lem luốc màu dơ với một giá rất bình dân là 2 US 1 đêm cũng có. Phải có một sự cách biệt quá đổi trời vực như vậy thì Ấn Độ mới có thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của một xã hội có nhiều giai cấp. Người du khách đến Ấn Độ nhờ đó cũng được hưởng những giá cả phải chăng tùy theo khả năng và túi tiền hiện hữu của họ. Do thường đi chiêm bái các Phật tích cũng như có dịp hướng dẫn nhiều phái đoàn nên chúng tôi có được chút kinh nghiệm từng trải từ những khách sạn bình dân khi đi cá nhân cho đến các khách sạn sang trọng bậc nhất khi tổ chức hướng dẫn các phái đoàn. Vậy nên nhân đây chúng tôi cũng sơ lược qua một số các khách sạn từ thấp đến cao.

Khách sạn loại thấp/trung Tại Ba La Nại.
Tourist Bungalow. 
(Tel: 43413) Khá sạch và được mắt, có vườn và nằm trong trung tâm, dễ đi đến trạm xe Bus và ga xe lửa. Giá cả tương đối từ 100 Rs đến 150 Rs cho phòng đôi.
Tourist Dak Bungalow. (Tel: 42182). nằm ở khu vực Cantonment, nhà trọ có vườn hoa đẹp, có phòng ngủ tập thể giá rẻ khoảng 50 Rs hoặc phòng đôi với giá từ 150 - 200 Rs một đêm.
Hotel Surya. 
Nằm ngay sau khách sạn Clark Ba La Nại là một nơi khá tốt và sạch sẽ, cũng có vườn hoa và một nhà hàng bán thức ăn tàu rất ngon. Tất cả phòng đều có chung nhà tắm và toilet. Giá mỗi phòng đôi từ 100 đến 150 Rs. Phòng có máy lạnh từ 250 đến 350 Rs.
Hotel India. (Tel: 44401). 
Khách sạn tương đối khá mới, sạch sẽ và giá cả phù hợp. Phòng từ 250-350 Rs và có máy lạnh từ 350-400 Rs. Tại đây cũng có nhà hàng và bar.
Hotel Pradeep. (Tel: 44963). 
Khách sạn này 2 sao. Giá phòng thường từ 200-250 Rs và phòng có máy lạnh từ 350-400 Rs. Khách sạn có nhà hàng Poonam rất ngon.

Khách sạn loại sang 4 và 5 sao.
Khách sạn Taj Ganges (5 sao. Tel: 0542-42481, 42491. Fax: 0542-322067). 
Là khách sạn sang trọng và nổi tiếng nhất tại thành phố Ba La NạiTọa lạc gần trung tâm cách 2 km từ phố chính, 1 km từ nhà ga và 22 km từ phi trường. Khách sạn có 130 phòng cả thảy với giá là 3500 Rs cho phòng đôi và 2700 Rs phòng chiếc. Khách sạn có các nhà hàng Ấn Độ, continental, có hồ bơi và sân chơi tenis.
Khách sạn Clark Varanasi (5 sao. Tel: 348501. Fax: 348186). Sang trọng bậc nhì tại thành phố này. Khách sạn có tất cả 135 phòng với giá 2400 Rs cho phòng đôi và 1300 Rs phòng chiếc. Thường thì tại các khách sạn sang trọng số tiền phòng trên còn phải cộng thêm 10 phần trăm tiền thuế nữa. Trong khách sạn có các nhà hàng Tàu, Ấn Độ và Continental. Nơi đây cũng có hồ bơi và một số các tiện nghi khác.

Nghỉ đêm tại Lộc Uyển.

Tourist Bungalow. (42515). Có phòng chiếc và phòng đôi giá từ 100 -200 Rs. Một số các chùa quanh Lộc Uyển cũng có nhà khách cho người hành hương và người ta cũng có thể hỏi xin trú tạm tại các nơi đó như chùa Miến Điện, chùa Tàu với giá phải chăng.

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ

 


Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

Xá Vệ

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

Câu Thi Na [Kushinagar]

 Lần đầu tiên chúng tôi đến Câu Thi Na là cách đây khoảng 4 năm về trước. Hồi ấy Câu Thi Na chưa sầm uất và đầy các công trình xây cất chùa chiền như bây giờ, hồi ấy Câu Thi Na đầy vẻ hoang vắng và thiếu nhiều phương tiện giao thông đi lại. Nhớ lần ấy đến Gorakhpur chúng tôi loai hoay tìm cách đi Câu Thi Na bằng một phương tiện rẻ nhất. Và như tôi kể ở các chương trước là sau một thời gian chờ đợi mõi mòn đến phải ngủ đêm lại trong một căn khách sạn đầy chuột và dán, chúng tôi mới đón được chiếc xe buýt đầy ắp người xình xịch chạy rề rề lúc ngừng lúc đổ và mãi đến gần 3 tiếng sau mới đến được Câu Thi Na. Lần thứ hai chúng tôi đi chung với một vài người phật tử nên phương cách tiện nhất là đón một chiếc Taxi. Lần mướn taxi này cũng là một lần đáng nhớ. Vì hình như cả một đám tài xế Taxi ở trạm đó đều ăn rơ với nhau nên họ nói giá với chúng tôi thật cao. Tuy nhiên chúng tôi cũng chẳng vừa nên đi dạo một vòng quanh phố và khám phá ra một trạm taxi khác cách đó không xa với một giá rẻ hơn nhiều. Rồi cũng làm bộ trả giá lên xuống và sau cùng chúng tôi mướn được xe với giá 350 Rs cho đoạn đường 52 km đến Câu Thi Na.

Nói là Taxi cho oai chứ thật ra chiếc xe chúng tôi đi chẳng có nghĩa gì là Taxi cả theo một nhận thức thông thường của người bên Âu Mỹ. Chiếc xe hơi loại kiểu Anh vào thập niên 40-50 gì đó vậy mà vẫn còn có giá trị trong những tuyến đường dài này. Nhìn xe chúng tôi cũng đủ biết nó quá già nua, mang đầy tật bệnh và quả thật trên đoạn đường đi chiếc xe đã phải dừng lại nghỉ nhiều lần cho máy nguội, đó là chưa kể xe bị hư hai ba lần dọc đườngTuy nhiên tiền nào của nấy hoặc có thể nói ngược lại là của nào tiền nấy nên dọc đường chúng tôi chẳng mấy than van và thông cảm lắm với nổi khổ của chiếc xe. Đúng ra thì chẳng có nơi trên thế giới mà người ta có thể đón xe thuộc loại Taxi này đi đoạn đường dài 52 km với một giá rẻ mạt là 15 US. Dù là xe Taxi hay xe thồ, xe cóc gì đi nữa thì chúng tôi cũng cảm thấy rất hài lòng với giá cả này vì nếu phải đem so với giá Taxi ở Đan Mạch, ở Đức thì chắc chúng tôi phải lắc đầu le lưỡi, lẽ dĩ nhiên là xe Taxi đó cũng êm hơn, thoải mái và sướng hơn nhưng với chúng tôi thì thật tình chẳng mấy quan tâm lắm về những cái xa xí phẩm ấy.

Khi xe buýt đưa chúng tôi đến Câu Thi Na thì trời đã xế trưa. Sau khi rời khỏi bến xe chúng tôi loay hoay đi tìm nơi ở trước và không hiểu sao thật là kỳ lạ lúc ấy chúng tôi không có một ý nghĩ tìm đến chùa Linh Sơn Việt Nam để xin trú lại. Thế nên đi vòng vòng mãi chúng tôi mới kiếm được một khách sạn Ấn Độ cũ mèm, thiếu cả phần vệ sinh căn bản tối thiểuTuy nhiên chúng tôi không quan tâm lắm về nơi ăn chốn ở của mình, có lẽ phải nói chúng tôi thuộc loại dân lì nên cái gì cũng dễ chấp nhậnẤn Độ mà nếu người ta không chấp nhận thì gần như là chối bỏ và còn bài xích nữa là khác. Có người lần đầu đến Ấn gặp các cảnh tượng sống và sinh hoạt ở đây đã bị một cơn “Sốc” ghê gớm và một hai đòi đáp máy bay trở về nước; rồi lại có người sau khi viếng thăm, ở lại một thời gian lại đâm ra mê tít xứ này một cách lạ lùng; ví dụ như chúng tôi đây và xin nhớ một điều là không phải riêng chúng tôi đâu nhé, có hàng bao nhiêu người tây phương, Á đông khác đã nói với chúng tôi như vậy kìa.

Hình như tôi thấy mình đang có được một chút gì đó trong thời gian sống ở đây. Có lẽ là một chút chịu đựng nho nhỏ trong cái đời sống đa dạng đầy màu sắc này. Dĩ nhiên là phải trải qua thời gian để rồi tôi có được cái nhận xét chín chắn hơn, trưởng thành hơn trong việc nhận xét và đánh giá sự vật chứ không như ban đầu thời gian tôi mới đến. Tập chịu đựng chính mình và đừng thấy cái xấu bên ngoài là những gì tôi vẫn đang còn cố gắng thực tập dầu rằng đôi khi tôi vẫn quên mình và thấy đầy dẫy những cái xấu khác ở một vài xứ xở nào đó. Thầy tôi thì luôn luôn khuyên nhắc tôi rằng, “con phải cố tập chịu đựng dù là một sự chịu đựng nho nhỏ nào đó. Còn không thì tất cả các vấn đề và khổ đau sẽ đè ập lên con. Một món ăn khó nuốt, một tiếng ồn nhỏ làm con mất ngủ ban đêm, một vài điều không đúng ý, tất cả đều có thể làm con khó chịu đến phát loạn”.

Nhớ lại lần đầu tiên đến Ấn vào năm 1992, tôi than thở chê bai Ấn Độ mọi điều, nào là dơ quá, bụi quá, đông người quá, lộn xộn quá, mất trật tự quá và một dọc dài của những từ ngữ “quá và rất”. Đôi khi tôi nghĩ rằng xứ xở tây phương làm tôi hư vì đã cho tôi một cuộc sống quá đầy đủ về vật chất mà không giúp cho tôi có một cái nhìn và hiểu biết về thực trạng của đời sống. Thứ đời sống mà tôi từng hưởng đó chỉ là một mặt của xã hội con người và thường đưa con người đi sâu vào những giấc mơ đẹp giả tạo để rồi quên bẵng cái thế giới và con người khổ đau chung quanh. Và hình như các thế giới tây phương đang có đủ khả năng và phương tiện để giúp con người ta tiếp tục có được những giấc mơ đẹp ấy.

Mang những cái nhìn và hiểu biết giới hạn như vậy tôi bay về xứ Ấn Độ để được học và tìm đạo. Mục tiêu của tôi đến đây là mục tiêu của một người đang trên đường đi cầu tìm và học đạo thế mà rõ thật là cạn cợt và hạn hẹp khi nhìn và đánh giá một xứ xở tâm linh văn hiến này chỉ với đầy những từ ngữ “quá và rất”. Nhưng lúc ấy thật tình tôi không thể nào thấy được gì hay và đẹp khác ngoài những nổi chịu đựng nhọc nhằn. Chuỗi ngày theo sau quả là những chuỗi ngày của đau khổ và chịu đựngChịu đựng những bản nhạc Ấn Độ dựt dựt nhảy nhảythe thé như muốn làm long tai điên óc con người trên các chuyến xe buýt, chịu đựng buộc phải xem những băng Video chỉ toàn có hát và nhảy múa muốn điên dại trên những chuyến xe đường dài, chịu đựng những bữa cơm nặng mùi cà ri cay xé miệng, chịu đựng những mùi hôi của lớp dân nghèo lam lũ, chịu đựng sự dơ nhớp, mánh mun ma quái của lớp dân buôn bán chuyên tìm cách gạ gẫm lường gạt người ngoại quốc và chịu đựng bao nhiêu là thứ khác nữa v.v... Nhưng hiện sau gần bốn năm ở đây tôi mới biết mình học được một chút gì chịu đựng nho nhỏ và thấy được những gì không cần phải chịu đựng, nghĩa là thấy được trăm ngàn những cái hay đẹp khác ở xứ này và dĩ nhiên cuộc sống của chúng tôi hiện tại là biết hưởng những gì hay và đẹp trên một đất nước có chiều sâu tâm linh đáng kính trọng như xứ này.

 Nghĩ lại những nhận định và suy nghĩ lúc ban đầu, tôi thấy mình lúc ấy quả thật là nông cạn và ngây thơ. Giờ đây tôi đã hiểu Ấn Độ là Ấn Độ và các nước Âu Mỹ là các nước Âu Mỹ, hai nơi sẽ không bao giờ có thể giống nhau và cũng không nên giống nhau. Tôi giờ đây thích Ấn Độ giữ được những nét như nó đang là và phải là một xứ xở tâm linh như vậy thì Ấn Độ mới có thể là nơi phát sinh ra những bậc thánh nhân vĩ đại trong quá khứhiện tại cũng như ở tương lai. 

Có một số người đến Ấn Độ một lần rồi sau đó kết luận đánh giá Ấn Độ là như vầy thế kia. Nhưng rõ thật là lầm lẫn vì không thể đánh giá xứ này từ một lăng kính nào đó trong một sớm một chiều được. Ấn Độ có thể ví như bản tâm của mình vì nó vô cùng phức tạp và khó thể đánh giá một sớm một chiều tâm mình ra sao. Ta không thể kết luận tâm mình thiện hay ác trong một lúc nhất thời nào đó mà cần phải có thời gian nghiệm xét, tư duy thiền định hoặc khi phải chạm mặt với thực tế của đời sống. Đối với xứ xở này cũng vậy, thật là khó đánh giá và kết luận trong một chuyến đi hoặc qua những cái mắt thấy tai nghe. Đất nước Ấn Độ có muôn vàn màu sắc với những nơi đẹp tựa trong tranh, có những chốn xa hoa sang trọng đẹp đẽ không thua gì các nước Âu tây nhưng cũng có nơi dơ bẩn nghèo hàn và đói rách. Thiên đường và địa ngục đều hiện hữu nơi xứ này, ngạ quỷ và A Tu La cũng có. Tất cả đều có nơi đây trong cùng một nơi nhưng chỉ khác bên này và bên kia đường mà thôi. Đời sống và sinh hoạt của dân Ấn là vậy còn về tính tình thì cũng khó hiểu vô cùng mặc dù phải nói rằng người dân đây vô cùng hiền hậu và dễ chịu. Nhưng để hiểu về con người họ, về dân tộc họ thì chính những người bạn Ấn của tôi cũng phải buộc miệng than rằng: “Chính tôi là người Ấn mà cũng không hiểu được họ huống là bạn”. Tôi thì cố tập lắng nghe và tìm hiểu thêm về xứ sở, người dân ở đây bằng cách đọc thêm nhiều sách về Ấn Độ. Càng tìm hiểu sâu về con người và xứ này tôi càng thấy đặc biệt và lạ lùng; khó thể diễn tả được hết với mọi người. Đôi khi tôi nói chơi với thầy Hạnh Tấn rằng, sao những người làm phim Hồng Kông không sang đây để làm cuốn phim n Độ cái gì cũng có” như họ đã từng làm ở Việt NamNhật BảnĐài Loan v.v... Phim được làm ở đây sẽ là một cuốn phim trung thực nhất hơn ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới, tôi cho là vậy.

Buổi chiều chúng tôi ra thăm viếng đại tháp và chùa Niết BànCảnh tượng nơi đây thật yên tĩnh đến độ trầm lặng. Không khí thoáng độ u buồn và hình như phảng phát dư âm hình bóng của người xưa, của bậc thầy cao vòi vọi trên tất cả hàng trời người. Hòa mình vào dư âm đó chúng tôi tụng một thời kinh và quỳ im lặng xúc động hàng giờ bên pho tượng Phật nhập Niết bàn được an trí trong ngôi chùa.
Quang cảnh ở Câu Thi Na này quanh năm đều có một không khí tĩnh mịch và toát vẻ u buồn. Nổi u buồn nào đó phảng phất đâu đây còn sót lại một chút hồn mà những khách hành hương khi đến nơi này đều không khỏi cảm thấy xót xa và rung động tự đáy lòng. Trong chuyến hành hương năm 1993, có em Phạm Anh Dũng một phật tử thuần thành nhưng chẳng may đôi mắt em lại bị mất đi ánh sáng ngay từ thuở nhỏ. Thật tội nghiệp là trong suốt đoạn đường hành hương em chẳng thấy được gì mà chỉ cảm nhận bởi một tấm lòng thành. Tấm lòng của một con người tuy mất đi ánh sáng nhưng lại luôn luôn khao khát tìm về con đường sống thật của nội tâm. Có lẽ em không có dịp may để được sinh vào thời Phật và được ngài cứu chữa như ngài đã cứu chữa sáng mắt cho 500 người mù tại thành Xá Vệ; nhưng em đã may mắn hơn trăm ngàn người đồng cảnh ngộ khác là em đã đến tận nơi đức Phật đã từng sống, từng đi giáo hóa cứu độ chúng sanh. Với tôi điều đó cũng là tất cả, là điều quý báu hơn hết vì em đã đến đây và cảm nhận được tất cả với một tấm lòng thành mà cho dù những người giàu sang và đầy đủ nhãn quang khác cũng không thể có được cơ duyên sang đất Phật chiêm bái như vậy.

Ba em đã đưa em đi chiêm bái các di tích của đức Phật tại Ấn Độ trong thời gian này. Đến Câu Thi Na và khi được hỏi về cảm tưởng của em khi đến đây, em đã nói thật là cảm động: “Cháu có nhớ trong kinh là khi đức Phật nhập diệt, tiếng khóc đã vang xa ba ngàn thế giớiđức Phật là con mắt của thế gian mà khi ngài mất đi thì thế gian không còn nơi nương tựa nữa. Cháu còn nhớ nổi buồn của mình khi đọc đến đoạn đó. Chỉ còn có mấy ngày nữa là cháu rời khỏi Ấn Độ rồi mà cháu cảm thấy lưu luyến như đây là quê hương của cháu trong muôn ngàn kiếp xưa vậy. Phải chăng chỉ một con người như em Dũng, một người đã mất đi cái ánh sáng thiêng liêng nhất của con ngườilúc ấy mới thốt lên được những lời chân thật đầy ý nghĩa xuất phát tự đáy lòng. Còn tôi tuy là một tu sĩ nhưng nếu có ai hỏi về cảm nghĩ của tôi lúc ấy thì có lẽ tôi chỉ có thể trả lời một cách máy móc mà thiếu sự rung động thật sự từ con tim. So với em Dũng tôi thấy mình thật đáng hổ thẹn.
Sau khi chiêm bái nơi chùa Niết Bàn xong chúng tôi đến nền tháp nơi hỏa thiêu nhục thân đức Phật. Tại đây chúng tôi đảnh lễ ngôi tháp và ngồi thiền mãi đến khi trời sập tối. Cuộc thăm viếng lần đầu của chúng tôi là vậy, đơn giản, ngắn ngủi nhưng có nhiều ý nghĩa và xúc động. Những lần thăm viếng chiêm bái về sau, chúng tôi thường đi với các phái đoàn nên ít có được thời gian với những giây phút êm đềmý vị như vậy. Và thường là những lúc sau này, chúng tôi còn bị quấy rầy bởi những người tăng sĩ Ấn Độ kỳ lạ thuộc Nam tông, chuyên môn gạ chuyện chúng tôi để rồi muốn cúng dường các bộ y Nam tông. Và kỳ lạ thay là lần nào đến lại Câu Thi Na chúng tôi cũng gặp những vị thầy ấy và được các thầy đó đi kèm theo to nhỏ đòi cúng dường các bộ y như trên. Vui nhất là kỳ hành hương vừa qua với phái đoàn của T.T Khánh Anh, chúng tôi còn gặp cảnh họ tranh cãi, giành nhau đòi cúng dường các bộ y cho T.T nữa. Chuyện lạ thật và mãi cho đến nay chúng tôi cũng vẫn chưa hiểu được mục đích đằng sau của sự việc cúng dường này là gì? 

Đường Về Tịch mặc

 Tin đức Thế tôn ba tháng nữa nhập diệt đã loan đi khắp bốn phương trời, các chúng sanh hàng trời người đều rúng động và không ngăn nổi cảm xúc bi ai khi nghe được tin này. Ôi! rồi mai đây thế gian sẽ trống rỗng, chúng sanh nơi các cõi sẽ chìm trong khổ đau của mê tối, trôi lăn với luân hồi và không thể tìm đâu ra con đường giải thoátNgọn đèn tuệ soi đường của hàng trời người sẽ mất. Khổ thay, khổ thay. 
Khi bậc toàn giác ra đi, hình bóng người sẽ mãi mãi xa vắng với các đệ tử. Các thầy Tỳ kheo trưởng lão nghĩ đến đó mà không cầm được cơn đau xót, các thầy không nỡ nhìn đức Phật ra đi nên xin ngài cho phép họ được nhập diệt trước. Những hàng đệ tử chưa đạt thánh quả thì ta thán lên rằng, Thế tôn sẽ ra đi, có còn ai đâu mà dìu dắt chúng ta trên bước đường tu học. Họ đồng bi than tự trách sao sinh nhằm vào thời Phật nhập diệt, để không có cơ duyên tu học và giác ngộ khi đức Thế tôn còn tại thế. Vua quan dân chúng thành Vaishali cũng không tránh khỏi cảm xúc rơi lệbịn rịn đưa tiễn theo ngài mãi trên con đường xa mà chưa muốn quay trở lại.
Tình thương nào mà chẳng một mai phải chia ly, sự luyến ái nào mà chẳng đến hồi chung cuộc. Cái vô thường của kiếp người đang dần dần hủy diệt những cái gì mà con người thương yêu triều mến nhất và chân lý chắc thật ấy như giờ đây thấy rõ hơn qua buổi tiễn biệt đức Phật ra đi khỏi thành Vaishali để về nơi nhập diệt. Thôi các ngươi hãy ở lại đây, ta cùng chúng tăng sẽ ra đi về hướng Pava nơi thành Câu Thi Na để nhập diệt. Cả đoàn người vua quan dân chúng đều khóc than sầu não chẳng thể dứt rời và đức Thế tôn khi ấy đã làm hiện ra một dòng sông nước chảy xiết để ngăn đôi đoạn đường đưa mọi trở lại chốn cũ.

Bình thản và hùng dũng như con voi chúa, ngài lại ra đi cùng với chúng đệ tử của mình hướng về Pava. Xuyên qua làng Amragama, làng Jambugama, làng Bhandagama và sau cùng ngài đến làng Bhoga-nagara dừng lại ở khu vườn Cincapa nằm về hướng Bắc của làng này. Vì muốn độ chúng sanh mà đức Phật thị hiện thân sanh tử, vì muốn độ chúng sanh mà ngài thị hiện cảnh bệnh hoạngià nua và nhập diệt. Này A Nan, ta muốn dừng lại nghỉ một chốc nơi đây vì ta đang cảm thấy mệt. Biết đức Thế tôn không được khỏe và muốn nghỉ, cả đại chúng cùng nhau lo lắng và ngài A Nan run sợ tìm chỗ trước sau cho ngài an nghỉ. Ôi! đức Thế tôn nếu có mệnh hệ gì thì các đệ tử của người sẽ ra sao. Cả chúng sanh trong cõi này sẽ mất đi ánh sáng và đêm đen của si ám vô minh sẽ trùm khắp nhân loại

Tuy nhiên sau một khoảng thời gian ngắn nghỉ lại nơi đây, biết các hàng đệ tử đang lo lắng cho mình, đức Phật nhẹ mỉm cười bảo ngài A Nan sửa soạn đi tiếp về Pava. Con đường có còn xa đâu và dường như thôn xóm Pava đang ẩn hiện phía trước đoàn người. Nhân duyên còn lại ở đời chẳng còn bao lâu và ngài biết rõ điều ấy để giờ đây mỗi một lời ngài dạy, mỗi bước chân ngài đi là mỗi một tấm lòng trìu mến mà ngài muốn chia sớt cho các đệ tử của mình. 

Buổi chiều ở Pava thật đẹp khi ánh thái dương đang chìm dần từ một chân trời xa. Cả một không gian mênh mông đỏ ửng hồng bởi những tia sáng còn sót lại từ ánh mặt trời chiều tà chiếu lươn lướt lên những tà y vàng của một đoàn người đang thầm lặng dõi theo bước chân của đấng Toàn giác. Chỉ khi đặt chân đến thôn làng Pava nhỏ bé này mới thấy cái vĩ đại của đoàn khất sĩ. Biết tin có tăng đoàn của đức Phật đến thôn Pava, dân làng đủ mọi lớp người đổ ra xem kẻ đứng đứng coi ngó chỉ trỏ người cúng kính lễ bái cúng dường và trong số đó; một người thợ sắt già run run bước đến trước Phật chậm rãi ôm bàn chân ngài rơi lệ đảnh lễxúc động mà không thể nói lên được một câu. 

Mãi lâu sau ông mới có thể thưa lên với đức Phật như vầy: “Bạch đức Thế tôn! ngài sắp nhập Niết bàn, chúng con thấy buồn đau quá và thưa ngài tuy chúng con nghèo cùng khốn khổ nhưng duyên gặp ngài khó được, cúng dường ngài lại khó hơn nên mong ngài từ bi nhận lễ cúng dường trai phạn nơi con ngày mai để con được những phước lộc ở kiếp vị lai. Ngửa mong ngài xót thương nhận lãnh, cúng phẩm của con tuy kém mọn nhưng cũng sẽ dâng lên ngài và chư tăng được dùng đầy đủ”.
Này Chunda! Lành thaylành thay ông nay phát tâm muốn cúng dường Như Lai cùng tăng chúng và ta vì muốn ban sự hy hữu đến cho ông mà nhận lãnh.
Chunda lúc ấy hoan hỷ vui mừng chưa từng có và lạy tạ lui ra. Sau đó ông về nhà loan tin cho gia đình biết và chuẩn bị các món ăn đặc biệt để ngày mai này dâng lên đức Phật cùng tăng chúng. Ông đi hái các loại nấm ngon chưa từng có, loại cứng, loại mềm đủ loại và ông cẩn thận làm suốt buổi chiều ngày hôm ấy hầu kịp cho buổi lễ cúng dường vào trưa ngày hôm sau.

Trưa hôm sau đức Phật cùng tăng chúng đến nhà ông Chunda để thọ thực. Bữa ăn được bày biện thịnh soạn và tốt đẹp đầy đủ các loại nấm thơm, các mùi hương ngào ngạt. Ngài cùng chúng tăng vì ông mà thọ sự cúng dường và sau đó ra về.
Vì tâm đại từ bi muốn làm ruộng phước điền lớn cho Chunda mà Thế tôn thọ nhận lễ cúng dường của ông tuy ngài biết rằng bữa cơm mà ngài thọ kia sẽ là bữa cơm cuối cùng và ngài sẽ sớm ra đi. Và cũng để an ủi Chunda rằng không phải do nơi thức ăn ông cúng dường mà Thế tôn phải mang bệnh ra đi nên đức Phật ân cần dặn dò ngài A Nan nói lại với ông Chunda rằng:

Này A Nan rất có thể sau này Chunda sẽ hối hận vì nghĩ rằng đức Như Lai do thọ bữa cơm nơi ông mà nhập diệt. Này A Nan cần phải đánh tan sự hối hận ấy của Chunda mà nói với ông ta như vầy: Này Hiền giả, Thật là có công đức cho bạn vì được Như Lai dùng bữa ăn cúng dường cuối cùng từ bạn. Này hiền giả, tôi nghe đức Thế tôn dạy rằng: có hai vật thực cúng dường đến Như Lai mà phước báu bằng nhau, có quả bằng nhau và phước báu lớn hơn tất cả. Đó là vật thực cúng dường đến Bồ tát ngay trước khi người chứng đạt đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, và vật thực cúng dường đến bậc giác ngộ trước khi người nhập Niết bàn. Hai vật thực cúng dường ấy đem lại phước báu bằng nhau, quả bằng nhau và vô cùng quý báu hơn tất cả các sự cúng dường khác. Do thiện nghiệp này mà người phát tâm tịnh tín cúng dường sẽ được phước báu, sau khi mất sẽ được tái sanh vào các cõi trời, vào cảnh vua chúa, quyền quý cao sang, được nhiều may mắn và danh vọng”.

Sau khi về đức Phật cảm thấy rất mệt và đau đớn, và ngài đã nhập định chịu đựng cơn đau và dạy ngài dạy A Nan trải một tấm y dưới một gốc cây cho ngài nghỉ. Này A Nan hãy đi lấy cho ta một ít nước để uống, đức Phật bảo và lạ thay là ngài A Nan ba lần thảy đều từ chối vì cho rằng nước vẫn đục do nơi 500 cỗ xe vừa mới đi qua. Nhưng do thần lực của đức Phật mà sau cùng khi ngài A Nan đến bên dòng suối để lấy nước, ngài đã phải rất ngạc nhiên và hớn hở về bạch cùng đức Phật như sau:
Bạch Thế tôn, thật là kỳ diệu và hy hữu. Bạch Thế tôn, con sông nhỏ này đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đụcvậy mà khi con đến liền trở thành trong trẻo, sáng lạng và không vẫn đục. Con kính xin thỉnh Thế tôn dùng nước.
Cùng trong ngày ấy đức Phật cùng tăng chúng đi đến làng của bộ tộc người Malla cách đó không xa và an nghỉ trong khu rừng Sala. Khu rừng rừng rộng lớn và đầy những cây Sala nở bông tỏa hương thơm ngào ngạt. Chim muông ca hót vang rừng dầy những âm điệu líu lo trầm bỗng như chào đón, như tán thán cúng dường đến Phật. Chư thiên từ các cõi trời cũng đến hầu và chờ đợi những bài giảng pháp cuối cùng nơi ngài. Không gian khi ấy như ngưng đọng trầm lắng, chỉ còn lại tiếng kêu của chim muông thú vật trong rừng.

Lúc bấy giờ trong làng Malla có một người giàu có tên là Pushkasa nhân đi ngang qua đó thấy cảnh tượng của khu rừng khác thường và phong cách siêu thoát của đức Phật nên rất lấy làm lạ lùng, đến gần nơi ngài tìm hiểu và tỏ vẻ thán phục về sự trầm lặng tôn nghiêm của ngài nên đảnh lễ và cung kính ngồi sang một bên cầu được hầu chuyện với đức Phật.
Pushkasa là một đệ tử của Alara Kalama và thường hay tán thán về các hạnh trầm tỉnh của thầy mình. Đi đâu ông cũng khen ngợi thầy mình là có hạnh trầm tỉnh siêu xuất của một bậc thánh mà không ai bì kịp. Thế nên nhân gặp đức Phật nơi đây ông cũng muốn lại thưa chuyện và ca ngợi về hạnh trầm tĩnh của thầy mình. Ông kể cho ngài nghe như sau:

 Bạch Thế tôn, thầy con đạo sư Alara Kalama một hôm trên đường đi ngồi nghỉ dưới một gốc cây thì lúc bấy giờ có 500 cỗ xe đi ngang qua. Bạch Thế tônlúc ấy có một người đi ngang qua thấy lạ bèn đến hỏi: Tôn giả có nghe tiếng không? Thầy con đáp, này hiền giả ta không nghe tiếng. Tôn giả có thấy 500 cỗ xe đi ngang qua không? Này hiền giả ta không thấy. Có phải Tôn giả đang ngủ không? Không phải ta đang ngủ đâu. Vậy tôn giả đang thức tỉnh. Phải, này hiền giả ta đang thức tỉnh”.

Bạch đức Thế tôn, đó có phải là sự kỳ diệu hy hữu của thầy con chăng? Ngài ấy thật là có sự trầm tỉnh, siêu xuất và hơn hết tất cả mọi người; ngài ấy là người cao thượng, là bậc đáng được tôn kính bậc nhất.
Thấy Pushsaka có cơ duyên đức Phật bèn thuyết một bài pháp về sự trầm tĩnh của người xuất gia để độ ông ta. Ngài nói:
Này Pushsaka như có người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy 500 cỗ xe đi ngang qua, cũng không nghe tiếng thì điều ấy khó hay như có người đang giác tỉnh, còn thức trong khi trời đang mưa, mưa tầm tả ào ào, sấm chớp chói lòa vang động, điều nào khó hơn”.

Bạch Thế tôn, nói gì đến 500 cỗ xe mà cho đến 600, 700 hoặc 1000 cỗ xe cũng không thể sánh được người đang giác tỉnh, còn thức khi trời đang mưa, mưa tầm tả ào ào, sấm chớp chói lòa vang động. Điều này thật khó hơn.
Khi Pushsaka nói xong đức Phật liền kể cho ông nghe một chuyện, có lần ta đang ngồi ở nơi một nhà đập lúa và lúc bấy giờ trời mưa tầm tả ào ào, sấm sét vang động và có 2 anh em nông phu cùng bốn con bò đực bị sét đánh chết. Tiếng la ó vang dậy và mọi người dân làng bủa đi tìm hiểu vấn đề. Khi họ thấy ta đang ngồi nơi nhà đập lúa thì liền hỏi: Này ngài Cồ Đàm, ngài có thấy người nông phu và mấy con bò bị sét đánh chết chăng? Ta đáp họ rằng, ta chẳng thấy. Ngài có nghe tiếng gì bên ngoài chăng? Ta chẳng nghe. Vậy có phải ngài đang ngủ? Không ta chẳng phải ngủ. Vậy ngài đang còn thức. Phải ta đang còn thức, đang giác tỉnh. Đó Pushsaka, người dân làng nơi ấy biết đến ta như vậy và họ sau đó truyền tụngđảnh lễ và phát lòng tin nơi ta.Ạ

Nghe đức Phật kể xong Pushsaka phát tâm tịnh tín và xin đức Phật cho phép ông được quy y, xin được làm đệ tử từ nay cho đến khi thân hoại mạng chung. Sau đó Pushsaka đem đến cúng dường ngài hai bộ y màu kim sắc, vàng chói.
Khi Pushsaka đi khỏi đức Thế tôn vì lòng thương xót đại chúng nên mới dùng phương tiện chỉ bày sự hy hữu và điềm lạ nơi ngài trước khi ngài xả bỏ báo thân và nhập diệt. Ngài dạy ngài A Nan đắp chiếc y ấy lên mình ngài và lúc ấy do thần lực của đức Phật nên khi y được đắp lên, thân ngài bỗng trở nên rực sáng. Rất lấy làm ngạc nhiên ngài A Nan thưa rằng:

Bạch đức Thế tôn, Con đã hầu ngài trong hai mươi năm mà chưa từng bao giờ thấy thân ngài có màu sắc sáng chói, kỳ diệu như hôm nay. Đó là nhân duyên gì xin ngài giải thích cho chúng con được rõ? 
Nhơn đó đức Phật giải thích cho ngài A Nan và đại chúng nghe rằng: này A Nan, có hai trường hợp mà màu da của đức Thế tôn sáng chói, rực rỡ lạ thường. Đó là trong lúc Thế tôn sắp đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và lúc Thế tôn sắp nhập Niết bàn.Ạ

 Tiếp đó đức Phật dạy ngài A Nan và chúng Tỳ kheo rằng, chính vào cuối canh đêm nay nơi rừng Sala này, ta sẽ diệt độ. Này A nan, hãy trải chỗ nằm cho ta, đầu hướng về phương Bắc, giữa hai cây Sala. Ta đã mệt mõi lắm rồi và muốn nghỉ. Nằm xuống trên chiếc võng giữa hai cây Sala, đức Phật nằm nghĩ và khi ấy bỗng nhiên các loài hoa Sala rơi rụng rãi đầy khắp trên thân ngài. Trên hư không lúc ấy cũng có các điềm lạ xuất hiện; những mùi hương thơm ngào ngạt xông khắp khu rừng và các loài hoa Chiên đànhoa Mạn đà la từ nơi không trung rơi xuống trải đầy những màu sắc lộng lẫy phủ kín cả một khu rừng, nhạc trời đâu đây cũng reo vang trổi dậy như cúng dường đức Thế tôn lần sau cùng. Thật là điềm lạ hy hữu chưa từng có. Nhân dịp này đức Phật dạy cho chư tăng như sau:

 Này các Tỳ kheo, các cây Sala tự nhiên trổ hoa trái, những hoa này rơi rụng, gieo rắc vơi vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Rồi các hoa trời Mạn đà la, hoa Chiên đàncác loại hương trầm, hương bột reo rắc rải trên thân Như Lai để cúng dườngCác loại nhạc trời cũng réo rắc trên hư không vang lên để cúng dường và dầu vậy này các Tỳ kheo, không phải như vậy là tôn kínhsùng bái và làm vẻ vang Như Lai đâu. Bất luận vị Tỳ kheoTỳ kheo ni nào hay các thiện nam thiện nữ nào thực hành đúng theo lời dạy, đúng theo giới pháp và trang nghiêm đời sống của chính mình theo con đường chơn chánh, thì đó chính là người tôn kínhsùng bái và làm vẻ vang Như Lai một cách cao thượng nhất. Vậy nên này các chư Tỳ kheo, hãy gắng công tu tậpy theo giới pháp và sống đời phạm hạnh.

Các thầy Tỳ kheo và hàng phật tử lúc ấy vâng dạ lãnh thọ lời Phật dạytuy nhiên thấy đức Thế tôn đã yếu đi nhiều và sắp sửa nhập diệtai nấy buồn thương sầu khóc rơi lệKinh Đại Bát Niết Bàn ghi lại rằng, chư thiên lúc ấy trên các cõi trời cũng khóc than, đầu tóc bù rối, lăn lộn qua lại và than lên rằng: Thế tôn nhập diệt quá sớm, con mắt pháp của thế gian đã biết mất.

Các chim muông ngừng hót, cầm thú cũng sầu đau quanh quẩn nơi xa mà nhòm ngó bi ai. Đức Phật, bậc thầy của trời người nay sắp ra đi, tiếng kêu của ai đó vang vọng trong không gian như muốn kêu gọi người đến đảnh lễchiêm ngưỡng ngài lần cuối cùng. Thấy nghe cảnh tượng như vậy, ngài A Nan không khỏi buồn thương ra đứng bên rừng buồn tủi khóc lóc thảm thiếtĐức Phật thấy vậy mới kêu lại khuyên lơn: 
Này A Nan! ngươi đã hầu hạ Như Lai bằng tất cả tình thương, sự tôn kính và cả một tấm lòng, thì nay cớ chi lại buồn thương. Ví như một vị vua có đủ bốn tánh chất cao quý, thì ngươi người thị giả của ta cũng có đủ bốn tính chất cao quý đó. Đối với Như Lai ngươi đã khéo săn sóc, tâm đầy lòng từ ái, an ổn và lợi ích trong từng cử chỉ của thân, lời nói và ý nghĩ, như vậy thật đáng khen thay, đáng tán thán thay. Ngươi đừng buồn và sầu khóc nữa”.

 
 

Lại nữa A nan, chớ có phiền muồn và khóc than. Như Lai đã từng dạy rằng, tất cả chúng ta đều phải phân ly, cách biệt và xa lìa những gì chúng ta quý mến và ưa thích nhất. Này A Nan, con đã tạo nhiều phước báu, con sẽ sớm thanh lọc mọi ô nhiễm.
Lúc bấy giờ có một ông già tên là Subhadda (Tu Bạt Đà La) đã 120 tuổi tu theo ngoại đạo Ni Kiền Tử cũng nghe tin đồn là vào đêm nay đức Cồ đàm sẽ nhập diệt nên nghĩ rằng:

Ta có nghe những vị thầy đứng tuổi và các bậc trưởng lão nói rằng: thật hiếm hoi lắm, thật hy hữu lắm mới có một đấng Thế tôn, đấng Toàn giác xuất hiện trên thế gian này. Đêm nay vào canh chót đức Cồ Đàm sẽ nhập Vô dư Niết bàn. Ta có một điều hoài nghi và ta tin tưởng nơi đức Cồ đàm. Đức Cồ đàm sẽ giảng dạy giáo pháp và phá tan mối hoài nghi của taϮ Nghĩ như vậy xong ông Sudhadda đến nơi rừng Sa La để mong gặp đức Phật, nhưng ba lần không được ngài A Nan cho vào vì ngài sợ làm quấy nhiễu đức Thế tôn. Biết được cơ duyên đã chín mùi cho người ngoại đạo Subhadda, nên đức Phật nói ngài A Nan cho ông ta vào.
Trong dịp này đức Phật thuyết giảng cho ông Subhadda nghe về cái vi diệutối thượng của pháp Bát chánh đạo và chỉ có pháp này bậc Sa môn mới chứng được các quả thánh từ Dự lưu đến A La Hán, bậc vô học thoát khỏi mọi khổ đau của kiếp luân hồi

Nghe pháp xong Subhadda đắc được pháp nhãn và đạt được tầng thánh cao nhất. Ông xin Phật xuất gia rồi sau đó xin phép ngài nhập diệt vì không muốn đau lòng khi trông thấy đức Phật nhập Niết Bàn. Sudhadda lần cuối cùng đứng trước Phật chiêm ngưỡng tôn nhan của ngài rồi đầu mặt đảnh lễ chân Phật buồn khóc rơi lệ bạch rằng:
Bạch đức Thế tôn, con vì vô minh tà kiến nên bị trôi đắm mãi theo các giáo pháp của người ngoại đạo và nay nhờ được duyên lành thọ ân ngài mà tâm được sáng tỏ, bước vào con đường chơn chánh của giáo phápTrí tuệ của đức Thế tôn như biển cả, lòng từ bi của ngài thật vô cùng. Con tự xét dầu nhiều kiếp nát thân cũng chưa báo được ân đức này. 

 Bạch cùng đức Thế tôn xong, ông lại ngẹn ngào khóc lóc và không nói thêm được một lời. Mãi một lúc lâu ông mới kềm được cơn xúc động và cuối lễ Phật lần nữa rồi đến một bên rừng ngồi ngay thẳng an lành mà diệt độ. Chúng Tỳ kheo khi trông thấy toàn cảnh như vậy bỗng trở nên nức nở, than khóc, người đấm ngực té xỉu xúc động, người ngã quyất tỉnh hôn mê. Tiếng ồn náo khóc than vang dội khắp cả một khu rừng.

 Đức Phật trông thấy cảnh như vậy mới ôn tồn bảo các chư Tỳ kheo rằng:
Này các Tỳ kheo, các ngươi đừng có buồn thương sầu đau như những người phàm tình. Đừng để mất chánh niệm và hãy thường giữ tâm thanh tịnh, mong cầu thoát ra khỏi luân hồiLuân hồi là cõi khổ vô cùng tận do vô minh sai sử tác động không ngừng. Vô minh ấy là chủ, ân ái là ma vương sai khiến đày đọa thân tâm này như tôi tớ. Cũng lại do tâm ấy duyên theo trần cảnh mà chúng sanh tạo tác nghiệp sanh tửniệm niệm tham sân si tự hại và trong vô lượng kiếp họ phải chịu thọ lấy đầy các khổ não. Ai là người có trí tuệ lại không xa lánh và nhờm gớm cảnh khổ sanh tử này.
Lại này các Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ các ngươi nên lấy gì mà làm thầy hướng đạo. Phải hiểu chính là giới pháp. Vì giới là con thuyền lớn mang chở người qua khỏi biển khổ sanh tửgiới pháp giống như một ngọn đèn sáng soi tỏ trong bóng đêm; giới như của báu mang lại sự giàu có hy hữu cho người nghèo khó; Vì thế các ngươi hãy nên tôn trọng giới pháp vì giới pháp còn là ta còn chẳng khác. Lại này nữa các Tỳ kheo, tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, thế nên hãy tinh tấn tu hành sớm cầu giải thoát.

Sau lời dạy trên đức Thế tôn liền nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô sở hữu xứ, ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
Kế đó đức Thế tôn lại xuất Diệt thọ tưởng định, ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất Thức vô biên xứ, ngài nhập Không vô biên xứ định. Xuất Không vô biên xứ, ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền ngài liền diệt độϮ

Lúc bấy giờ ngay khi đức Phật diệt độ, đất đai chấn động khủng khiếp, sấm trời vang động ở mười phương. Tất cả biển lớn đều dậy sóng lên cuồn cuộn đục ngầu. Giếng ao sông rạch suối mương thảy đều nghiêng ngửa khô cạn. Khắp cả tam giới đều vắng lặng tối tăm và ở cõi này lúc ấy trời đất mờ tối, giông bão khởi lên gió thổi cát bay và cây cối ngã đầy trên mặt đất. Chư thiên trên các cõi trời lúc ấy đồng hiện xuống đầy cả hư không và rải trăm ngàn hoa hương trời để cúng dường đức Như lai. Họ đồng thanh kêu to lên rằng: “Khổ thay, khổ thay! đức Phật đã nhập Niết bànthế gian này trống rỗng, con mắt tuệ thế gian không còn nữa, các phiền não ma quái giờ đây tràn khắp, những khổ đau rồi đây sẽ quay cuồng chẳng dứt đoạnẠ”.
Bên dưới các hàng đệ tử của đức Phật bốn chúng đồng nhau buồn khóc rơi lệ. Họ có kẻ tỉnh người mê, kẻ đau đớn mất trí người ngây dại ngất xỉu, lại có người thân tâm run rẩy ngẹn ngào nước mắt tuôn rơi, có người đấm ngực kêu to có người cào đầu bức tóc nằm lăn trên đất khóc than chưa từng có. Các hàng Tỳ kheo đã đắc thánh quả thì liền ngay đó nhập diệt theo Phật, người chưa đắc còn nhiều tham ái thì khóc than thảm thiết, có vị té ngửa thân nằm nhoài trên đất lăn lộn qua lại: ©! Thế tôn sao nhập diệt quá sớm, Đấng Thiện thệ sao nhập diệt quá sớm, pháp nhãn đã biến mất trên đời chẳng còn gì nữa. Một số vị Tỳ kheo đã diệt trừ tham ái thì họ an trú trong chánh niệmtỉnh giác và nhẫn nại suy tư rằng: “Các hành ở thế gian là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?

Nghe theo lời chỉ dẫn của ngài A Nan, các người trong bộ tộc Malla đã đem nhục thân đức Phật đến một nơi gần đó để hỏa thiêu. Đầu tiên họ vấn tròn thân Thế tôn với một loại vải mới, kế đến là một lớp vải gai bện và lại một lớp vải mới, cho đến năm trăm lớp vải như vậy. Sau khi quấn các loại vải xong, họ đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác rồi đặt chiếc hòm sắt ấy trên một giàn hỏa gồm các loại cây hương thơm.
Tuy mọi sự đã sẳn sàng nhưng kỳ lạ thay khi họ bắt đầu phóng hỏa lửa lại không bắt cháy và mọi người đều âu sầu chẳng rõ duyên cớ. Nhưng đột nhiên có âm vang đâu đó lồng lộng khắp cả không gian. “Này các người kia, các ngưoi không thể đốt cháy được nhục thân của Như lai đâu dầu là một ngàn, một trăm ngàn bó đuốc. Hãy chờ đợi ngài Ma Ha Ca Diếp trở về đảnh lễ Phật lần cuối”. Thì ra đó là tiếng của vua trời Đế Thích, người cũng thị hiện xuống nơi này để đảnh lễ nhục thân đức Phật và chiêm ngưỡng lần cuối lễ hỏa táng của ngài.

Trong khi ấy ngài Ca Diếp đang ở tại núi Kỳ Xà Quật, cùng các chúng Tỳ kheo nhập định và bỗng nhiên ngài thấy thân thể rún động, tim đập mạnh, bên ngoài núi rừng cây cối đều chấn động nên biết rằng đức Như lai đã nhập diệt. Thật khổ thay, khổ thay, này các thầy Tỳ kheo chúng ta phải mau đến nơi đức Như lai mới có thể kịp trông thấy sắc thân chơn tịnh của ngài. Hãy đi mauđi mau.
Ngay hôm đó ngài cùng chúng Tỳ kheo đi bộ chẳng ngừng nghỉ hướng về thành Câu Thi NaTrải qua bảy ngày đêm ngài mới đến được nơi này và khi dừng chân tại bên ngoài rừng ngài đã nghe thấy tiếng kêu khóc của bốn chúng đệ tử đức Phật và vua quan dân làng bộ tộc Malla. Khi thấy ngài đến, ai ai cũng nhường chỗ cho vào và ngài Ca Diếp dẫn đồ chúng đi vòng quanh kim quan của đức Phật mà đảnh lễ than thở khóc lóc, tủi phận không thể trông thấy được thân của đức Như lai lần cuối cùng

Lúc ấy do lòng từ bi vô lượng của đức Phậtphép lạ xuất hiện khi nắp của kim quan ngài tự nhiên mở ra hiển bày trọn vẹn sắc thân ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của đức Như Lai. Ngay khi thấy cảnh này, các thầy Tỳ kheo đồng khóc than, nghẹn ngào, có vị ngất xỉu té xuống đất; sau một hồi các ngài dùng các loại hoa hương rải lên thân Phật cúng dường rồi đảnh lễ mà lui. Nắp kim quan khi ấy liền tự đóng lại.

Buổi trà tì lại bắt đầu với bốn người lực sĩ trang sức nghiêm thân tay cầm những bó đuốc lớn đến bên dàn hỏa để đốt nhưng cả thảy đều bị tắt. Rồi một đám đông lực sĩ đem những bó đuốc lớn để đốt nhưng cũng đều không thể đốt được. Họ lại buồn rầu ngơ ngác và chẳng hiểu duyên cớ gì. Lúc bấy giờ ngài Ca Diếp bèn nói to cho đại chúng hay rằng, kim quan của đức Phật chẳng thể dùng lửa thường mà đốt cháy được và dù có lửa trời cũng chẳng thể chạm vào được. Chỉ có sức thần của đức Như lai mới có thể tự đốt được.
Lời ngài vừa xong thì lúc ấy do thần lực của đức Thế tôn, từ nơi ngực ngài một ngọn lửa phóng ra thiêu đốt cả kim quan, cháy sáng cả một vùng rộng lớn và ánh lửa ấy cháy mãi đến bảy ngày mới tàn rụi. Khi lửa vừa cháy lên bốn chúng đệ tử của đức Phật cùng nhân dân trong thành cũng buồn than khóc lóc trọn bảy ngày không dứt, tiếng vang ra tận những phương xa và người người đều đến đây chiêm bái đảnh lễ và cúng dường.

Khi nhục thân đức Phật bốc cháy, thì từ bên da ngoài da thịt mỏng cho đến bên trong gân cốt khớp xương thảy đều cháy sạch, các tro tàn và than cũng chẳng còn lại, chỉ có xương Xá lợi nhiều màu sắc sáng chói là còn lại.
Khi buổi trà tì vừa xong thì lúc bấy giờ lại có điềm lạ xuất hiện. Từ nơi hư không bỗng nhiên có một dòng nước tuôn xuống dập tắt giàn hỏa Thế tôn, và bên dưới dất cũng có một giòng nước phun lên tưới tắt những vật còn cháy dở xung quanh. Những người dân làng thuộc bộ tộc Malla ở Câu Thi Na cũng phụ mang các loại nước thơm đến để dập tắt giàn hỏa Thế tôn.

Sau lễ hỏa thiêu, để tránh sự xung đột của tám vương quốc lân cận trong việc tranh dành Xá lợi của đức Phật, dân làng người Malla thu nhặt những Xá lợi đức Phật và đem chia đều cho 8 vương quốc ấy. Ai nấy đều hoan hỷ đem về và xây tháp cúng dường.

Câu thi natheo dấu người xưa

 Vào thời Phật còn tại thế Câu Thi Na là một thị trấn nhỏ bé, nơi có ít dân cư sinh sống và đa phần thuộc bộ tộc Malla. Tuy nhiên đây là một giống dân hiền lành và tin mộ đạo. Các người trong bộ tộc này hoặc tin theo các thầy thuộc Bà la môn giáo hoặc tin theo Phật giáo mà lúc bấy giờ khi nghe tin đức Phật sắp nhập diệt, họ kéo nhau đi đến chiêm báiđảnh lễ và khóc than sầu não.
Tuy nhiên theo lời đức Phật Thích ca kể cho ngài A Nan thì trong vô số kiếp về trước Câu Thi Na này từng là kinh đô của nước Kusavati dưới sự trị vì của vua Mahasudassana (vua Đại Thiện Kiến). Kinh đô lúc ấy phía Bắc rộng đến mười hai do tuần và phía nam rộng đến bảy do tuần, dân cư sống đông đúc và phồn thịnh; người dân sống sung mãn và thực phẩm phong phú. Trong hàm ý nói lên sự thịnh vượng giàu có của thành phố này, đức Phật đề cập đến những sinh hoạt tại đây qua các âm thanh của chín loại tiếng:
Này A Nan, tại kinh đô này ngày đêm vang dậy chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng Tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông.

Đức Phật một con người rất bình dị nên sự ra đi của ngài cũng mang tính chất bình dị như cuộc đời của ngài. Tuy nhiên sự ra đi và nơi chốn ra đi của ngài không phải là không mang một ý nghĩa to lớn qua lời giảng cho ngài A Nan nghe về nguồn gốc của Câu Thi Na, một nơi mà ngài A Nan coi thường vì tánh cách nhỏ bé, nghèo nàn xa lánh phố thị của nơi này.
Sau khi đức Phật nhập diệt chẳng bao lâu thì vùng đất Câu Thi Na thuộc bộ tộc Malla bị sát nhập vào vương quốc Ma Kiệt Đà và sau đó đến thời đại vua A Dục thế kỷ thứ III trước Tl thì Câu Thi Na đã thành một phần của một vương quốc rộng lớn do vua A Dục thống lãnh.

 Sau khi quay trở về với Phật giáo vua A Dục cũng đến viếng Câu Thi Na trong một lượt chiêm bái các thánh tích của đức Phật. Đến Câu Thi Na vua cũng cho xây các trụ đá và những ngôi tháp để đánh dấu và tưởng niệm đến đức Phật.
Trải qua mấy thế kỷ sau và đến thời ngài Pháp Hiển, một cao tăng Trung Hoa sang chiêm bái các thánh tích tại đây vào khoảng thời gian giữa năm 399 và năm 414 sau Tl, thì ngài có ghi nhận về Câu Thi Na với nhiều tháp, tự viện và lúc bấy giờ nơi đây đang là một trung tâm tu học phồn thịnh. Trong các triều đại Gupta, Phật giáo lại càng phát triển mạnh và các ngành về nghệ thuật, mỹ thuật Phật giáo cũng đã đạt đến điểm cao nhất trong thời gian này.

Đến triều đại Kumargupta (413-455), có nhà nghệ thuật gia tên là Haribhadra tạc một bức tượng Phật theo tư thế nhập Niết bàn rất tuyệt đẹp và sau khi tạc xong ông ta đã cho an vị vào ngôi chùa Đại Niết Bàn, ông ta cũng cho trùng tu một số các tháp và chùa viện tại đây. Bức tượng độc đáo của nhà nghệ thuật gia Haribhadra sau một thời gian dài đã bị tan vở và vùi lấp đuới đống gạch vụn nhưng ngày nay qua các cuộc khai quật người ta đã tìm thấy được và ráp lại, cũng như đưa trở về vị trí cũ trong ngôi chùa Đại Niết Bàn.

Vào khoảng năm 620-644, tức là thời ngài Huyền Trang đến Ấn Độ và thăm viếng Câu Thi Na thì lúc bấy giờ nơi đây đã điêu tàn và gần như hoang phế. Ngài đề cập đến Câu Thi Na này một cách khá chi tiết như sau:
Thủ đô của nước này đã bị tàn phá và các làng xóm bị bỏ rơi trong hoang tàn đổ nát. Những nền móng gạch của dãy tường thành thủ đô xưa kia có chu vi rộng khoảng 10 lý. Có ít dân cư sống ở đây và những con đường phố bị hư nát. Về hướng đông bắc của cổng thành phố có một trụ đá do vua A Dục cho xây dựng. Đây là nơi ngôi nhà xưa của người thợ sắt Chunda. Giữa khu vực này có một giếng nước được đào vào thời gian ông ta cúng dường đến đức Phật. Mặc dù giếng nước này đã trải qua nhiều năm tháng, nước nơi ấy vẫn còn rất trong và ngọt.

Về phía tây bắc của thành phố khoảng ba hoặc bốn dặm, ngang qua dòng sông Ajitavati, không xa từ mạn tây ngạn dòng sông này, chúng tôi (ngài Huyền Trang) đến khu rừng Sala. Cây Sala hơi giống cây Huh với vỏ cây màu lục nhạt và những chiếc lá có màu sắc sáng loáng và mịn. Nơi đây có bốn 
thân cây với chiều cao lạ thường, đánh dấu nơi đức Phật đã nhập diệt.
Nơi đây có một ngôi tịnh xá bằng gạch to lớn, trong có một hình tượng Phật mang hình dạng nhập Niết bàn. Ngài nằm trong tư thế đầu hướng về phương bắc. Cạnh bên tịnh xá này có một trụ đá do vua A Dục xây dựng và mặc dù trong
tình trạng sập đổ nó vẫn còn có chiều cao là 200 feet. Trước đó là một trụ đá ghi khắc những dữ kiện về sự nhập diệt của đức Phật. Mặc dù các ghi chú còn đó nhưng người ta không thấy đề cập ngày, năm hoặc tháng.

Đây đó quanh Câu Thi Na cũng có bao nhiêu là đền tháp đánh dấu nhưng sự tích xa xưa thời đức Phật cũng như những kiếp sống hành hạnh Bồ tát trong quá khứ của ngài. Đây là tháp đánh dấu trong tiền kiếp Bồ tát đã mang thân chim và khi thấy khu rừng ấy đang bị hỏa tai, chim đã bay đến dòng suối gần bên để lấy nước và rẩy lên đám cháy mong dập tắt để cứu sống sinh mạng cho nhiều muông thú.
Kia là tháp đánh dấu nơi Bồ tát mang thân nai hy sinh mạng sống của mình ngăn chận một dòng suối để cứu thoát những sinh vật đang bị chết đuối nơi ấy. Rồi những ngôi tháp khác đánh dấu nơi nhập diệt của Subhadda (Tu Bạt Đà La), người đệ tử 120 tuổi xuất gia lần cuối cùng với đức Phật, đã đắc quả A La Hán và nhập diệt trước ngài. Cạnh bên tháp này là một tháp khác đánh dấu nơi ngài Kim Cang Thủ ngã xuống ngất xỉu trên mặt đất khi trông thấy đức Phật nhập Niết bàn.

Từ thời đại của ngài Huyền Trang trở đi thì tại Câu Thi Na những ảnh hưởng tôn giáo càng mất dần hơn. Vua chúa không còn ủng hộ và nơi này trở thành nơi hoang vắng như thuở nào. Các sử liệu gần như không đề cập gì đến nơi này kể từ thế kỷ thứ VII đến XII. Phải chăng do vì địa thế quá xa xôi và hẻo lánh mà trong những thời gian sau đó Phật giáo đã không đủ sức phát triển và hoạt động mạnh tại nơi này.
Tuy nhiên Câu Thi Na thật sự rơi vào quên lãng từ sau thế kỷ thứ XIII do vì chiến tranh loạn lạc khắp nơi xảy ra tại Ấn Độ lúc bấy giờ và cũng do vì người Hồi giáo đã chẳng nhân nhượng trong các công việc đập phá hầu hết các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ vào thời điểm ấy. Sơ lược qua các thời điểm tang thương và đen tối nhất cho Phật giáo tại các thánh tích thường là khoảng giữa thế kỷ XII và XIII, khi quân đội Hồi giáo từ các nước Trung đông tràn xuống đánh chiếm và vơ vét của cải ở khắp Ấn Độ. Mãi đến thế kỷ thứ XIX, tính cách lịch sử của Câu Thi Na mới được tình cờ khai phá do nhà khảo cổ Wilson (1854) và một vài năm sau đó các cuộc nghiên cứu, khai quật có tính cách khảo cổ mới được chính thức thực hiện do nhà khảo cổ học Cunningham và người phụ tá của ông là Carlleyle. Trong các cuộc khai quật này người ta tìm thấy một mô gạch rất lớn chung nền với một ngôi chùa và nền này có độ dày khoảng 7 feet; ngôi chùa từng được xây dựng trên nền này có lẽ được xây dựng giữa thế kỷ XI và XII trên nền một ngôi chùa xưa hơn và có lẽ đây là ngôi chùa nguyên thủy. Những sự kiện này chứng tỏ rằng địa điểm nơi đây đã bị đốt cháy và cướp phá đến khoảng thế kỷ XIII.

 Dựa vào những lời miêu tả của ngài Huyền Trang trong tập Tây Du Ký, các cuộc khai quật đã tìm ra thêm nhiều các nền móng tự việntịnh xá và những tháp thờ. Cunningham cũng tìm thấy một pho tượng Phật nhập Niết bàn nằm bể nát bên trong một mô gạch cao. Mặc dầu bị vỡ khi được tìm thấy nhưng sau đó người ta đã cho phục hồi lại pho tượng. Pho tượng nguyên thủy này xưa kia dài 6m và hiện nay cũng được đặt lại y nơi vị trí xưa của nó, đầu hướng về hướng bắc theo tư thế đức Phật khi nhập Niết bàn

Đầu thế kỷ XX vào khoảng giữa các năm 1904-1907 và 1910-1912, các cuộc khảo cứu khác được thực hiện bởi nhà khảo cổ Vogell đã minh định thêm các di tích Phật giáo ở ngôi làng Câu Thi Na này. Năm 1956 công cuộc tái thiết ngôi chùa Niết Bàn được hoàn thành và kiến trúc ấy ngày nay vẫn hiện hữu với mái hình vòm, có các cửa sổ lớn thông ra bốn bên và sau ngôi chùa này là ngôi tháp Đại Niết Bàn to lớn hùng vĩ.
Hiện nay nơi chốn này đã được các nhà nghiên cứu, các người phật tử ở nhiều nơi trên thế giới thừa nhận như là một trong bốn nơi chốn linh thiêng và quan trọng nhất trong các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ.
Câu Thi Na ngày nay cũng là một ngôi làng bé nhỏ nằm cách phố Kasia khoảng 3,2 km về hướng tây nam và cách Gorakhpur thị trấn lớn gần nhất là 52 km. Khu vực này tọa lạc trong tiểu bang Uttar Pradesh thuộc miền đông bắc Ấn Độ.

Những di tích lịch sử

Đại tháp chính: 
Có chiều cao là 45,72m tọa lạc ngay phía sau chùa Niết BànĐại tháp này có cùng chung nền với chùa Niết bàn với độ cao 2,74m từ mặt đất. Trong các cuộc khai quật trước đó, người ta đã tìm ra tàn tích của ngôi tháp này và tháp bắt đầu được trùng tu lại vào năm 1927 do sự đóng góp cúng dường của Miến Điện. Lần trùng tu sau cùng là vào năm 1972 cũng do sự đóng góp cúng dường của các phật tử Miến Điện. 
Chùa Niết bàn: Được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1876 do nhà khảo cổ học Carlleyle. Theo sự nghiên cứu cho biết thì nền móng ngôi chùa được tìm thấy có thể không phải là nền móng nguyên thủy như ngài Huyền Trang đã miêu tả trong tập sách Tây Du Ký, mà nền móng này có thể là nền móng thứ hai được xây dựng trên nền cũ vào khoảng thế kỷ XI-XII sau Tl.

Trong cuộc đào xới năm đó người ta tìm thấy một pho tượng Phật bị bể theo tư thế nhập Niết bàn, sau này người ta đem ráp lại và đặt nguyên lại vị trí cũ.
Tượng được biết là làm vào thời đại Gupta, khoảng giữa năm 415 và 456 sau Tl, do một vị tăng tên là Haribhadra. Ngày nay tượng được đặt nằm theo vị trí cũ trong ngôi chùa Đại Niết Bàn này. Tượng Phật nhập diệt dài khoảng 6m, và trên thân ngài thường được choàng lên các tấm y do các phật tử cúng dường. Nơi lòng bàn tay ngài và chân ngài đều có những nét biểu hiện tướng tốt và vẻ đẹp nơi ngài.
Cuộc khai quật gần đây nhất vào năm 1976 đã tìm ra nhiều mảnh xương, mẫu than, cũi và những miếng sọ người cho thấy nơi này bị người Hồi giáo đốt phá nhiều lần trước khi vùng này hoàn toàn rơi hẳn vào quên lãng trong 6 thế kỷ sau đó.
Năm 1956 một cuộc trùng tu đại quy mô ngôi chùa này và kiến trúc ngôi chùa Niết bàn hiện nay là bắt đầu từ năm ấy. Đường đi kinh hành trước đây chỉ rộng độ 0.60 m nay đã được mở rộng ra thêm nhiều.

Tháp hỏa thiêu
Hơn một km về hướng Bắc của ngôi chùa Đại Niết Bàn là nơi hỏa thiêu nhục thân của đức Phật khi xưa. Nơi đây được đánh dấu bằng một ngôi tháp to lớn nhưng trải qua thời gian ngày nay chỉ còn lại một mô gạch vĩ đại tọa lạc giữa một công viên có vườn hoa xinh đẹp được bảo quản và coi ngó cẩn thận. Nơi này cũng được chính phủ Ấn Độ quan tâm và xếp vào hạng những di tích lịch sử quốc gia.
Theo như đường kính của ngôi tháp này người ta có thể ước tính nó lớn gấp đôi ngôi chùa Niết bànXung quanh mô tháp này cũng có một số các nền móng chùa viện hoặc tháp.

Khu vực khảo cổ: 
Chung quanh đại tháp và ngôi chùa Đại Niết Bàn là một khu vực khảo cổ rộng lớn gồm rất nhiều nền móng của các tự viện và đền tháp khi xưa. Đa phần các nền móng của chùa tháp này được biết có từ khoảng thế kỷ thứ I sau Tl, và cũng trong các cuộc khai quật này người ta tìm thấy nhiều đồng tiền, các mẫu đá điêu khắc nghệ thuật ghi dẫn những sự tích và sự nhập diệt của đức Phật tại Câu Thi Na này. Một số những nền tháp nhỏ khác thì được ghi nhận là do sự kiến tạo của những người hành hương đến đây chiêm bái và cho xây cất để cúng dường và tưởng niệm đức Phật. Nhìn chung các di tích này đã một thời đánh dấu những hoạt động Phật giáo tại nơi đây cho đến khoảng thế kỷ thứ XI.

Nền Matha-Kuar: 
Trên con đường chính ngay ngả rẻ đi về hướng tháp nơi hỏa thiêu nhục thân đức Phật là một khu vực khảo cổ khác, nơi được ghi nhận là một đền thờ kỷ niệm “thái tử mất” tại đây. Đối với người phật tử và chư tăng thì đức Phật là một bậc thầy vĩ đại và đã nhập Niết bàn tại đây, nhưng có lẽ đối với dòng họ Thích thì ngài vẫn được xem là một thái tử thuộc dòng họ Thích, nên để kỷ niệm sự ra đi của ngài dòng họ hoàng tộc đã cho lập đền thờ tại đây và mang một tên đặc biệt (thái tử mất) trên là vậy. Trong ngôi đền thờ này người ta còn tìm thấy một pho tượng Phật cao 3.05m trong tư thế “xúc địa ấn”. Mặt ngoài pho tượng có những ghi chú mà người ta tin rằng tượng này được làm vào khoảng thế kỷ X hay XI sau Tl. Khi tượng được tìm thấy thì lúc ấy tượng đã bị vỡ ra hai mảnh nhưng ngày nay tượng đã được ráp lại và đưa về vị trí cũ trong ngôi đền.

Viện bảo tàng
Tọa lạc phía bên trái trên con đường trở về từ tháp hỏa thiêu. Nơi viện bảo tàng này cũng sưu tập được rất nhiều các di tích Phật giáo qua các hình tượng, mẫu vật bằng đất, đồng từ nhiều triều đại khác nhau vào khoảng thời gian trước và sau Tl.

Chùa Phật giáo quanh vùng.

Chùa Linh Sơn
Đầu tiên có thể kể về chùa này vì ít nhiều ngôi chùa này cũng dính liền với người Việt của chúng ta. Chùa này nguyên trước kia thuợc về người Hoa có tên là Song Lâm tự, được những người phật tử người Hoa cúng dường xây cất vào năm 1948-1950. Tuy nhiên vào thời gian gần đây khi vị Ni sư viên tịch, chùa này được bàn giao lại cho H.T Huyền Viviện chủ chùa Linh Sơn Pháp quốc. Cách đây ba năm H.T có cử sư cô Trí Thuận sang đây điều hành và lo các công việc Phật sự. Qua sự năng động và khéo léo của cô mà giờ đây ngôi chùa đã được trùng tu và tái tạo lại rất tốt đẹp. Một dãy khách xá mới hai tầng đầy đủ tiện nghi cũng vừa được hoàn thành trong năm qua, mang lại một nơi chốn trú ngụ tốt đẹp cho người phật tử Việt Nam mỗi khi họ có dịp hành hương đến Câu Thi Na này.

Chùa Miến Điện: 
Tọa lạc sát bên chùa Linh Sơn với một khu đất thật rộng lớn. Chùa được xây cất vào khoảng năm 1945 bởi những người phật tử Miến Điện. Hiện chùa cũng đang có những dự án xây cất và mở rộng thêm các hoạt động sinh hoạt phật giáo tại đây.

Chùa Nhật: 
Nằm trên đường đi đến tháp hỏa thiêu nhục thân đức Phật. Chùa này là một kiến trúc hài hòa giữa Tích Lan và Nhật Bản với ngôi chánh điện được xây theo hình vòm tròn, có lẽ lấy kiểu từ tháp đại Niết bàn. Trong chánh điện có một tượng Phật Nhật bản và hai bên là các bức tranh Phật, Bồ tát được họa theo lối Nhật.

Chùa Tây Tạng: Gần bên chùa đại Niết Bàn và đường cái hướng về tháp hỏa thiêu nhục thân Phật. Chùa không lớn lắm và kiến trúc khá đơn giản. Nhiều dãy tăng phòng được xây tại đây nhằm đáp ứng nơi ở cho chư tăng Tây Tạng đến đây vào mỗi dịp hành hương.

Để đến Câu Thi Na.

Máy bay. 
Trước đây khi muốn đến Câu Thi Na thì người ta phải đáp máy bay đến Gorakhpur, thành phố gần nhất. Nhưng theo tin chúng tôi được biết thì trong năm nay 96, sẽ có đường bay trực tiếp đến Câu Thi NaThời gian và chuyến bay chi tiết xin liên lạc với các văn phòng du lịch.

Xe lửa. 
Xe lửa cũng chỉ đến Gorakhpur và tại đây du khách có thể đón tiếp xe buýt hoặc taxi để đi tiếp đến Câu Thi Na.

Xe buýt. 
Khách hành hương có thể đi xe buýt trong hầu hết mọi tuyết đường ở Ấn ĐộTuy nhiên đây là một vấn đề tốn rất nhiều thời gian và năng lực. Riêng Câu Thi Na người ta cũng có thể đến đây bằng xe buýt từ ngã Ba La Nại (Varanasi) đến Gorakhpur và từ đây phương tiện tốt và tiện lợi hơn hết là thuê Taxi từ Gorakhpur đi Câu Thi Na (52km) với giá từ 400-500 Rs trở lại.

Ngủ lại đâu? Ngủ lại Chùa.

 Tại Câu Thi Na không có nhiều khách sạn như các nơi mà chỉ có các chùa với các phòng ốc cho khách hành hương thuê. Hầu hết các chùa như: Chùa Miến Điện, chùa Tây Tạng, chùa Linh Sơn.v.v... đều có phòng cho thuê, riêng chùa Việt thì chắc mọi người cũng biết là “Tùy hỷ cúng dường”. Theo thiển ý của chúng tôi thì nơi trú ngụ tốt nhất cho khách hành hương tại Câu Thi Na này là chùa Linh Sơn, hiện nay do sư cô Trí Thuận trụ trì. Nơi đây hiện đã hoàn tất một dãy khách xá gồm hai tầng, rất tiện nghi, sạch sẽ và phải nói là hơn hẳn các khách sạn Ấn Độ.

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

 

Kaushambi 

 Thành phố cổ Kaushambi cũng đã từng là một thành phố lớn và quan trọng trong nhiều thế kỷ. Tọa lạc cạnh bờ sông Yamuna cách 51km về hướng tây nam của thành phố Allahabad ngày nay. Đức Phật đã viếng thăm thành phố này vào năm thứ 9 sau khi ngài thành đạo.
Có một câu chuyện kể rằng, lúc bấy giờ ở tại Kaushambi nọ một gia đình thuộc giai cấp Bà La Môn có một người con gái xinh đẹp và cha mẹ nàng muốn kén một chàng rể quý xứng đáng cho nàng. Một hôm lúc ông đang làm lễ cúng tế thần thì gặp đức Phật đi lại, say mê trước hình dáng trang nghiêm và tốt đẹp của đức Phật nên ông rất lấy làm vừa lòng và muốn chọn đức Phật làm rễ của gia đìnhLúc ấy đức Phật cũng quán sát và thấy ông có nhân duyên lớn được độ nên tìm cách tế độ cho hai ông bà này. Hai bên gặp nhau quả là một duyên tốt lành cho cả hai.
®g Bà La Môn khi ấy bèn nói đức Phật đứng chờ ông một chút và ngay tức thì ông chạy nhanh về nhà để dẫn vợ và kêu cô con gái cưng ra xem mặt chàng rễ quý.
Lúc ấy đức Phật cố ý dẫm chân thật sâu trên mặt đất rồi đi qua một ngôi nhà khác nên khi cặp vợ chồng già đến nơi họ không tìm thấy đức Phật. Vợ ông là một người biết xem tướng nên sau khi quán sát dấu chân Phật, bà biết đây không phải là một người tầm thường và là một người đã thoát ly ái dục. Bà lúc ấy im lặng không muốn nói gì thêm với chồng mình và để chờ xem sự việc diễn tiến ra sao.
Sau một hồi tìm kiếm hai vợ chồng thấy đức Phật đang đI từ xa và ông ta dẫn người con gái đến rồi đề nghị gả cho ngài. Đức Phật mỉm một nụ cười hiền từ và nói lên một bài kệ về trạng thái ngài chế ngự dục vọng như sau:

"Đã nhận thấy ái dụcbất mãn và tham vọng.
Ta không thích thú gì trong dục lạc của ái tình.
Thể xác đầy ô trược này là chi? 
Ta chẳng bao giờ muốn sờ đến nó, dầu là chỉ sờ bằng chơn"Ạ.

 Nghe đến đây hai vợ chồng Bà La Môn đắc quả A Na Hàm nhưng cô con gái Magandhiya con ông bà không hiểu nên rất lấy làm tức giận vì nghĩ rằng đức Phật chưỡi mắng nàng nên nén giận trong lòng và thề sẽ tìm cách trả thù sau này.
Quả thật do sắc đẹp tuyệt trần của cô nên về sau cô đã được làm thứ hậu của nhà vua Udena và một dịp khi đức Phật cùng chúng tăng đến nơi này để hoằng đạo, cô cho người mắng chưởi và xua đuổi đức Phật ra khỏi thành phố. Những người được mướn thuê làm công việc này khi gặp ngài đi đâu họ cũng đi theo và chưởi rủa ngài như vầy:

"Ông là tên ăn trộm, đồ khờ dại ngu si, ông là người điên cuồng, đồ con lạc đà, đồ bò, đồ lừa. Ông là người ở địa ngục chui lên, đồ súc sanh. Ông sẽ không mong gì được lên nhàn cảnh. Hình phạt và cảnh nổi khổ đau là tất cả những gì ông có thể mong đợi.

 
 


Ngài A Nan cảm thấy rất bực mình vì những lời chưởi rủa nhục mạ cứ mãi đi theo sau nên thỉnh ý đức Phật đi sang một làng bên.
- Này A nan, ta nên đi đâu bây giờ?
Bạch đức Thế tônchúng ta sẽ đi đến một thị trấn khác.
- Nếu ở nơi ấy người ta cũng chưỡi rủa và nhục mạ thì ta sẽ đi
đâu? 
Bạch đức Thế tônchúng ta lại đi đến một nơi khác nữa.
- Này A Nan không nên nói như vậy. Nơi nào gặp chuyện khó khăn thì chính nơi ấy ta phải dàn xếp cho ổn thỏa. Và chỉ khi giàn xếp xong ta mới có quyền đi nơi khác. Và ngài dạy thêm rằng, những người này chỉ mắng chưởi trong bảy ngày mà thôi và đến ngày thứ tám họ sẽ im. Mọi chuyện khó khăn xảy ra cho đức Phật không thể kéo dài quá bảy.Về hướng đông của tịnh xá và ngay giữa một khu rừng xoài, có một bức nền thành xưa; đây là nơi Bồ tát Vô Trước đã tạo ra bộ luận Hiển dương Thánh giáo.
Khoảng 8 hay 9 lý về hướng tây nam của thành phố là nơi ở của một con rồng hung ác. Sau khi hàng phục xong con rồng này, đức Phật đã cho in bóng ngài lại đây. Mặc dầu nơi đây thường được mọi người biết đến, tuy nhiên khi ấy không còn dấu vết nào để lại.

 

Cạnh bên là một ngôi tháp do vua A Dục xây dựng cao khoảng 200 feet. Gần đó là những dấu vết nơi đức Phật thường đi qua đi lại và ở đây cũng có tháp Xá lợi tóc và móng tay của ngài. Những đệ tử đức Phật thường bị khổ sở bởi các căn bịnh đau đớn hành hạ, nhưng khi cầu nguyện nơi này thì đều được chữa khỏi.
Khi giáo pháp đức Phật ở những nơi khác suy đồi thì nơi này Phật pháp vẫn còn hưng thịnh, vì thế từ những người có dòng tộc cao sang cho đến người hạ tiện khi ai đến đây cũng không khỏi khởi niềm cảm xúcrung động ngay cả đến rơi lệ khi họ trở về xứϮ

Ngày nay thành phố này có tên là Kausam, cũng là một ngôi làng nhỏ nằm cạnh bờ sông Yamuna. Các di tích về Phật giáo ở nơi này ngày nay cũng chẳng còn gì ngoài một trụ đá của vua A Dục và một số nền móng các chùa viện, đền tháp khi xưa.

Đến Kaushambi

 Đây là một nơi xa vắng, không tiện đường với tất cả các thánh tích khác và khó đi. Tuy nhiên để viếng thăm Kaushambi này khách hành hương có thể đi đến thành phố Allahabad bằng xe lửa hoặc máy bay. Từ đó có thể lấy xe buýt hoặc thuê Taxi đi đến Kaushambi. Đoạn đường này mất khoảng hai tiếng xe. Khi đi thăm các thánh tích khác, người ta phải trở ra thành phố chính Allahabad lấy xe hoặc tàu để đi các nơi khác

Ngủ lại đêm

P.W. D. Inspection House, Kaushambi, Allahabad.
Tourist Bungalow, 35 M.G. Marg, Allahabad.

 

XỨ PHẬT TÌNH QUÊ
Thích Hạnh Nguyện - Thích Hạnh Tấn

Samkasya

 Đây là một thánh tích Phật giáo khác mà tương truyền rằng đức Phật sau khi lên cung trời Đao Lợi giảng pháp cho chư thiên và mẹ là Hoàng hậu Maya, ngài đã xuống lại trần thế tại nơi địa điểm này. Kể từ khi đó Samkasya đã trở thành một trung điểm hành hương vì nơi đây được mọi người biết đến như một nơi mà đức Phật đã thực hiện một trong tám phép lạ vĩ đại của ngài.
Không có nhiều các tài liệu ghi chép chi tiết về những sự kiện và di tích tại Samkasya này. Tuy nhiên có thể nói cuốn Phật Quốc Ký của ngài Pháp Hiển từ Trung Hoa sang đây chiêm bái vào thế kỷ thứ V sau TL đã ghi lại một số nét chính mà chúng ta có thể mường tượng được những hình ảnh và sinh hoạt xảy ra vào thời đức Phật cũng như các thời đại sau ngài. Ta hãy nghe ngài Pháp Hiển tường thuật lại về Samkasya như sau:
“Samkasya là nơi đức Phật giáng xuống từ cõi trời Đao Lợi sau khi đã giảng pháp cho các chư thiên và mẫu hậu Maya trên cung trời này trong ba tháng. Khi đức Thế tôn dùng thần thông lên cung trời Đao Lợi ngài không cho các đệ tử biết và chỉ đến lúc 7 ngày trước khi xong thời gian 3 tháng trên cung trời ngài mới cho A Nậu Lâu Đà biết. Ngài A Nậu Lâu Đà bèn tin cho ngài Mục Kiền Liên biết và bảo ngài Mục Kiền Liên nên đi gặp đức Phật. Do đại thần lực ngài Mục Kiền Liên lên gặp đức Phật và đảnh lễ ngài. Sau đó đức Phật bảo ngài rằng sau bảy ngày đức Phật sẽ giáng hạ xuống cõi trần.

Ngài Mục Kiền Liên trở về và thông báo đến mọi người. Vua quan dân chúng trong tám vương quốc lúc bấy giờ đã lâu không gặp đức Phật nên rất khao khát mong được gặp lại ngài. Họ bèn tụ tập nhau nơi Samkasya chờ đợi đức Thế tôn giáng xuống từ cung trời. Lúc ấy có một vị Tỳ kheo ni tên là Utpala khởi tâm tự nghĩ chính mình rằng: “Hôm nay các vị vua quan cùng đại thần đều đi đến đảnh lễ và gặp đức Phật. Ta là một người phụ nữ, làm sao ta có thể thấy ngài trước được?” Biết được ý nghĩ này của Tỳ kheo niđức Phật bèn dùng thần lực của mình biến vị Tỳ kheo ni kia thành Chuyển Luân Thánh vương và như vậy cô ni ấy đã được gặp gỡ ngài trước tiên

Giờ đây đức Phật đang sắp sửa thị hiện xuống từ cõi trời Đạo Lợi, nơi đó đột nhiên xuất hiện ba chiếc thang báu. Chiếc thang giữa gồm bảy loại trân bảo, cắm xuống nơi đức Phật sắp giáng hạ. Rồi vua trời Phạm thiên cũng hóa ra một chiếc thang bằng bạc, xuất hiện nơi vua trời giáng xuống vào bên phải đức Phật. Vua trời Đế thích hóa ra một chiếc thang bằng vàng xuất hiện nơi vua trời giáng xuống vào bên trái đức Phật. Cũng có vô số chư thiên cùng theo đức Phật khi ngài thị hiện xuống nơi này. Sau khi ngài giáng hạ xuống trần, ba chiếc thang ấy đã biến mất vào lòng đất và chỉ chừa lại có bảy nấc mà người sau còn trông thấy.

Thời gian sau khi ngài A Dục đến đây chiêm bái, tò mò muốn biết những chiếc thang này dài đến đâu nên ngài đã cho người đào xới chỗ ấy lên để khảo nghiệm. Họ đào và đào mãi cho đến tận nền đất sâu nhưng cũng chưa thấy đáy. Đức vua từ câu chuyện này đã khởi thêm lòng tin và tỏ lòng sùng kính nên cho xây dựng nơi đó một ngôi tịnh thất, và đối diện nơi này ngài cho đặt một pho tượng Phật đứng cao 16 feet. Phía sau ngôi tịnh xá nhà vua cũng cho dựng một trụ đá cao khác và trên đỉnh cho đặt một tượng hình con sư tử. Nơi cây cột này ở bốn mặt đều có những tượng hình của đức Phật; trong ngoài thân cột đều chiếu sáng như gương. Có lần nơi đây xảy ra những buổi tranh luận giữa các tu sĩ Phật giáo với các nhà ngoại đạo. Những tu sĩ Phật giáo bị thua và sau cùng chấp nhận rằng: nếu nơi đây quả thực thuộc về những tu sĩ Phật giáo thì phải có những chứng tích linh thiêng mầu nhiệm xảy ra. Tức thời lúc ấy trên đỉnh sư tử, một tiếng gầm rống to lớn vang lên. Tận mắt thấy những chuyện lạ này nên sau đó các người ngoại đạo ấy bối rối và tự động rút lui.

 
 


Sau ba tháng chỉ dùng toàn thực phẩm cúng dường của chư thiên, thân Phật khi trở về toát ra một hương thơm ngào ngạt và phát ra ánh sáng rực rỡ khác thường, nên sau đó ngay khi vừa giáng xuống ngài đã đi tắm liền. Người đời sau để kỷ niệm bèn cho xây cất ngôi nhà tắm của đức Phật mà hiện vẫn còn. Cũng có một ngôi tháp đánh dấu nơi vị Tỳ kheo ni Utpala đến gặp Phật trước. Một ngôi tháp khác đánh dấu khi xuống đây đức Phật đã cắt tóc và móng tay. Khắp nơi có rất nhiều tháp như tháp đánh dấu nơi vua trời Phạm Thiên và Đế Thích cùng xuống với đức Phật, tháp đánh dấu nơi một vị tăng hàng phục con rồng dữ. Rồi cũng có những tịnh xá lớn ở đây, nơi có khoảng 600-700 tăng sĩ đang tu học lúc bấy giờ.

 

Ngài Pháp Hiển cũng ghi lại rằng quốc gia này rất phong nhiêu và người dân nơi đây giàu có sung túc không thể sánh.
Phật giáo đã thịnh đạt ở đây mãi cho đến thế kỷ thứ VII khi ngài Huyền Trang đến chiêm bái nơi này. Ngài cũng ghi lại rằng, lúc ấy cũng còn nhiều tu viện và độ khoảng 1000 vị tăng thuộc Chánh Lượng Bộ đang tu học tại đó. Một sự ghi nhận khác của ngài là trụ đá vua A Dục cao khoảng 70 feet, có màu sắc hồng và sáng. Một nơi khác về hướng đông nam của đại tháp là một chiếc hồ, nơi có một con rắn thần sinh sống và thường bảo vệ các di tích nơi đây. Ngài cũng tả rõ giống như ngài Pháp Hiển về những nơi đức Phật tắm rửa, cắt tóc và móng tay sau khi giáng hạ xuống nơi này. Một số ngọn tháp khác gần bên đánh dấu nơi chư Phật thường đi kinh hành qua lại và thiền định.

Sau thời đại ngài Huyền Trang thì ít có sử sách ghi lại về nơi chốn này và mãi cho đến năm 1862 thì nơi đây mới được tìm thấy lại do nhà khảo cổ học Cunningham. Trụ đá trên đỉnh có tượng con voi cũng được đặt lại nơi đây trong một hàng rào sắt và một mái che đơn sơ.
Ngày xưa Samkasya là một trung tâm Phật giáo phồn thịnh và được xem như là một trong tám địa điểm hành hương quan trọng của người phật tử nhưng ngày nay chẳng còn gì lại nhiều ngoài vài ba di tích không được bảo quản tốt đẹp và nhiều đền thờ Ấn giáo được xây dựng chung quanh khu này. Phải chăng những người Ấn giáo cũng xác nhận rằng đây là một trong những thánh tích của họ hay chỉ là một cách xây dựng để chiếm đóng những nơi chốn linh thiêng của Phật giáo. Dẫu sao thì các việc làm này cũng chẳng có gì lạ vì có nơi thánh tích Phật giáo nào của người phật tử mà lại không có đền thờ Ấn giáo của họ xây dựng bên trong?

Đến Samkasya

 Samkasya nằm trong vùng Farrukhabad thuộc tiểu bang Uttar Pradesh và ngày nay có tên mới là Sankisa. Tọa lạc về hướng tây bắc của Kannauj cách đó khoảng 80km, và nằm không xa từ sân ga Pakhna (11.3km) trên tuyến đường đi từ Shikohabad đến Farrukhabad.

Từ Delhi đi Samkasya là 315km bằng đường bộ ngang qua Ghaziabad-Aligarh-Etah-Bewar trên quốc lộ chính số 22. Từ Bewar khách hành hương có thể đi tiếp tới Samkasya ngang qua Mohammadabad và Pakhra..
Một tuyến đường khác là nếu đi từ Agra thì cách Samkasya khoảng 175km ngang qua Firozabad-Shikhobad-Manipuri-Bewar-Mohammadabad và Pakhra. Trạm ga gần nhất là Pakhra nằm trên tuyến đường Shikhobad và Farrukhabad. 

 Còn nếu đi từ Lucknow thì trước phải đến Bebar cách Samkasya khoảng 236km, và sau đó đi tiếp 18 km đến Mohamadpura. Từ thị trấn này đến Sankasya chỉ độ khoảng 15km và khách hành hương có để dùng xe lam hoặc Taxi để đi tiếp phần đường còn lại. Khách hành hương cũng có thể đi hướng khác từ Kanpur đến Bebar và phần đường còn lại thì đi giống như trên.

Ngủ lại đêm

P.W.D. Inspection House, Samkasya.
Một số các khách sạn khác có thể tìm thấy ở Farrukhabad.

Ý kiến độc giả

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ

Thức Ăn Tinh Thần Của Người Tu - 29/01/2026 - 12784 lượt xem